TÍCH CỰC CHUẨN BỊ VÀ TỔ CHỨC THÀNH CÔNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG - Kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2019) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945-2/9/2019)-DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, LỜI CỦA NON SÔNG ĐẤT NƯỚC - Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm phấn đấu thực hiện thành công Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - SỐNG, CHIẾN ĐẤU, LAO ĐỘNG VÀ HỌC TẬP THEO GƯƠNG BÁC HỒ VĨ ĐẠI
  12/09/2019 22:04        

THAM LUẬN HỘI NGHỊ GIAO BAN ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN, ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN - DOANH NGHIỆP TỈNH, THÀNH PHỐ KHU VỰC MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN, NĂM 2019

ĐỀ DẪN

HỘI NGHỊ GIAO BAN ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN,  ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN - DOANH NGHIỆP TỈNH,  THÀNH PHỐ KHU VỰC MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN,  NĂM 2019

-----

Đảng ủy Khối các cơ quan, Đảng ủy Khối cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố là cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy; có chức năng lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng trong Khối thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan và tổ chức đoàn thể trong Khối vững mạnh, tạo thêm động lực lãnh đạo phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế địa phương; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong Khối chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham mưu, đề xuất với tỉnh ủy, thành ủy về các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng trong Khối.

Cùng với lịch sử phát triển của tỉnh, thành phố, Đảng ủy Khối các cơ quan trải qua nhiều lần điều chỉnh, đổi thay cả về mô hình tổ chức, hệ thống lãnh đạo, chỉ đạo và tên gọi, thậm chí đã có phỏng đoán về việc có thể giải thể mô hình Đảng bộ Khối. Từ mô hình Đảng bộ Dân Chính Đảng, đến thời kỳ chuyển tổ chức cơ sở đảng về sinh hoạt theo địa bàn và đến khi Đảng bộ Khối các cơ quan cấp tỉnh được tái lập. Đến nay, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ngoài mô hình Đảng bộ Khối các cơ quan đã có thêm mô hình Đảng bộ Khối cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố. Hiện nay trong 18 tỉnh, thành phố khu vực Miền Trung và Tây Nguyên (từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận và các tỉnh Tây Nguyên) có 11 Đảng bộ Khối các cơ quan và 07 Đảng bộ Khối cơ quan - doanh nghiệp với trên 1.400 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc và hơn 80.500 đảng viên (tăng 600 tổ chức cơ sở đảng và tăng 35.500 đảng viên so với lần thống kê của hội nghị giao ban năm 2018). Quá trình chuyển biến này đã chứng minh: Đảng bộ Khối là mô hình phù hợp trước mắt cũng như lâu dài để thực hiện vai trò, chức năng tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của các đảng bộ, chi bộ trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, thành phố và trong các doanh nghiệp có đảng viên, có tổ chức đảng. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cao, trong đó có nhiều đảng viên là lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của tỉnh, các cơ quan sở, ban, ngành cấp tỉnh, các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của địa phương, đã chứng tỏ các tổ chức cơ sở đảng trong Khối có vai trò quan trọng trong việc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển có định hướng trên mọi phương diện của các tỉnh, thành phố.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tỉnh ủy, thành ủy và sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, đơn vị, doanh nhiệp liên quan, các cấp ủy trong Khối các cơ quan, đơn vị tỉnh, thành phố và trong doanh nghiệp có đảng viên đã năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh của mỗi địa phương.

Đặc biệt, từ khi thực hiện Quy định 293-QĐ/TW, 294-QĐ/TW, ngày 23/3/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Đảng ủy Khối các cơ quan và Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh, thành phố, thì việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ của Đảng ủy Khối có nhiều đổi mới, đạt được kết quả tích cực trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Có thể khẳng định, Đảng bộ Khối các cơ quan, Đảng bộ Khối các cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố đã khắc phục những khó khăn, bất cập, từng bước xây dựng và phát triển ngày một vững mạnh, khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, trong các doanh nghiệp có tổ chức đảng của các tỉnh, thành trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, Đảng ủy Khối các cơ quan, Đảng ủy Khối các cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố nhận thấy, là một tổ chức đảng rất đặc thù, có những khó khăn, bất cập như sau:

- Do không có chính quyền cùng cấp, không có đầy đủ các cơ quan tham mưu, giúp việc như đảng bộ địa phương cấp huyện, không trực tiếp giao nhiệm vụ chuyên môn cho các tổ chức cơ sở đảng trong khối, nên việc theo dõi, đôn đốc, nắm bắt kịp thời kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, thực hiện các chương trình, đề án, dự án của cấp ủy cơ sở để tham mưu, đề xuất với tỉnh ủy, thành ủy các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ còn có nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.

- Các Đảng ủy Khối các cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố chưa được Trung ương quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác; hiện phải vận dụng Quy định 293-QĐ/TW, 294-QĐ/TW, ngày 23/3/2010 của Ban Bí thư để hoạt động.

- Các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc có nhiều loại hình, tính chất nhiệm vụ chính trị rất khác nhau; đội ngũ cấp ủy cơ sở kiêm nhiệm, tham gia theo nhiệm kỳ nên hạn chế về kinh nghiệm và kỹ năng công tác xây dựng Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác ở nhiều lĩnh vực khó khăn, phức tạp, ở các vị trí dễ phát sinh tiêu cực cũng là một thách thức không nhỏ trong công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên.

- Hiện nay việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW đang bước vào năm thứ 3, đòi hỏi các Đảng ủy Khối các cơ quan, Đảng ủy Khối các cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố tiếp tục nghiên cứu, đề xuất việc phối hợp tham mưu cho tỉnh ủy, thành ủy về sắp xếp tổ chức, quy định về chức năng, nhiệm vụ, tinh gọn tổ chức bộ máy và tập trung vào một số nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Vì vậy, tại hội nghị này cần có sự trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm, những kiến nghị, đề xuất để các Đảng ủy Khối của mỗi tỉnh, thành phố trong khu vực cùng nhau học hỏi, rút kinh nghiệm, làm tốt hơn công tác tham mưu, thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Kế thừa kinh nghiệm của các hội nghị lần trước, đặc biệt là hội nghị năm 2018 được tổ chức ở tỉnh Thanh Hóa, Ban tổ chức Hội nghị giao ban Đảng ủy Khối các tỉnh, thành phố năm 2019 đề nghị các đại biểu của các tỉnh, thành phố dành nhiều thời gian cho thảo luận, trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm trong công tác của Đảng bộ Khối các cơ quan, Đảng bộ Khối cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố; những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi, đảng bộ cơ sở trực thuộc; việc điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan Đảng ủy Khối theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII); việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (XII) về xây dựng Đảng gắn với việc mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị; việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; công tác kiểm tra, giám sát giải quyết những bức xúc, nổi cộm ở cơ sở; công tác chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, công tác dân vận; những thuận lợi, khó khăn, những kinh nghiệm, vướng mắc trong quá trình thực hiện mô hình Đảng bộ Khối các cơ quan - doanh nghiệp tỉnh, thành phố...

Trong quá trình chuẩn bị, Ban Tổ chức hội nghị đã nhận được 15 bài tham luận của các đơn vị, đã tập hợp để làm tài liệu gửi đến các đoàn và đăng tải trên Trang Thông tin điện tử của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa. Thông qua các bài tham luận, đề nghị các đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận, thẳng thắn nêu ý kiến với tinh thần trách nhiệm cao, đặc biệt là tập trung đề xuất, kiến nghị, đưa ra các giải pháp tổ chức thực hiện; kịp thời tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy và mạnh dạn đề xuất với Trung ương điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, cơ cấu tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh, thành phố, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.

Cũng tại Hội nghị này, chúng ta cũng bàn về cách thức, nội dung tổ chức hội nghị giao ban khu vực có hiệu quả, chất lượng hơn, làm cầu nối quan trọng để Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh, thành phố khu vực Miền Trung và Tây Nguyên tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết, học hỏi, trao đổi để giúp nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị ở mỗi địa phương, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

Với tinh thần đó, đề nghị các đồng chí đại biểu nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia thảo luận, góp phần vào sự thành công của Hội nghị.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH THANH HÓA

Một số kinh nghiệm trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách

Hồ Chí Minh”

-----

Trong hơn 3 năm qua, việc thực hiện Chỉ thị số 05 - CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa và cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, tác động tích cực đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở các cơ quan, đơn vị; góp phần cùng toàn tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Thường vụ, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị 05 của toàn khóa và hằng năm; tổ chức nghiêm túc việc học tập, quán triệt chuyên đề toàn khóa “Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đến cán bộ, đảng viên và người lao động trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc tổ chức học tập và sinh hoạt theo nội dung các năm chuyên đề trong các cơ quan, đoàn thể, chi bộ với tỷ lệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia học tập, nghiên cứu đạt trên 98%.

Để việc thực hiện Chỉ thị 05 đạt kết quả cao, Đảng ủy Khối đã lựa chọn và tổ chức thực hiện những khâu đột phá, tạo chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo Bác. Trong ba năm qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã rà soát, xây dựng và ban hành các quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức cơ sở đảng và cán bộ quản lý, bổ sung Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan với các ban của Tỉnh ủy và Quy chế phối hợp giữa Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan với Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh; xây dựng Đề án “Đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa”…

Các cấp ủy cơ sở căn cứ vào tình hình thực tế, những mặt còn hạn chế, yếu kém, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục hiệu quả, đồng thời xác định nội dung đột phá nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo Bác, tạo chuyển biến rõ rệt lề lối, tác phong trong công tác của cán bộ, đảng viên và người lao động trong các cơ quan, đơn vị. Từ phong trào này đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhiều cấp ủy các cấp thể hiện sự năng động, sáng tạo, tìm tòi, lựa chọn và quyết tâm thực hiện Chỉ thị bằng những phương pháp mới, cách làm hay, thiết thực, hiệu quả. Nổi bật có thể kể đến sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Chỉ thị của các cấp ủy trong khối các ban, sở, ngành cấp tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh dự thảo, ban hành nhiều cơ chế, chính sách góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - xã hội của tỉnh thời gian qua; cấp ủy khối trường học đã tổ chức nhiều phong trào, hoạt động góp phần để nhiều thầy giáo, cô giáo và học sinh trở thành những tấm gương tiêu biểu về “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, những công dân kiểu mẫu, những điển hình tiên tiến trong phong trào học tập và làm theo lời Bác.

Từ kết quả sau hơn 3 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất: Để việc thực hiện Chỉ thị 05 có sức lan tỏa, cần đặc biệt quan tâm tới công tác tuyên truyền những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, thông qua các hoạt động cụ thể do Ban Thường vụ hoặc do các đoàn thể chính trị - xã hội trực thuộc Đảng ủy Khối tổ chức, như: sưu tầm, biên soạn tài liệu, các tin, bài viết, bài nghiên cứu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác để đăng trên trang thông tin điện tử; tổ chức “Tuần phim về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh” cho học sinh, sinh viên khối trường học; chỉ đạo và tổ chức nhiều Hội thi, Cuộc thi, các hoạt động bổ trợ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và người lao động.

Thứ hai: Phải chọn lựa những nội dung trọng tâm, trọng điểm để học tập và làm theo Bác phù hợp chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ Khối. Hơn 3 năm qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã chọn 3 nội dung trọng tâm để tổ chức thực hiện, đó là: Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; đổi mới công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và người lao động; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với kiểm tra, giám sát Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Thứ ba: Coi trọng công tác biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo Bác ngay trong mỗi cơ quan, đơn vị thông qua kết quả những việc đăng ký “làm theo” Bác của các tập thể, cá nhân từ đầu năm. Hơn 3 năm qua, toàn Đảng bộ Khối đã có hơn 4.358 việc của các tập thể và hơn 42.000 lượt việc của cá nhân đăng ký và làm theo Bác; 74 tập thể, 94 cá nhân điển hình tiên tiến được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối biểu dương, khen thưởng; 27 tập thể và 42 cá nhân của Đảng bộ Khối được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh tặng Bằng khen; 30 tập thể, 250 cá nhân được các cấp ủy trực thuộc biểu dương, khen thưởng; 15 tập thể, 80 cá nhân thuộc Đoàn Thanh niên Khối được các cấp bộ Đoàn biểu dương, khen thưởng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có 08 cán bộ Đoàn được Trung ương Đoàn tuyên dương.

Phát huy những kết quả đã đạt được, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo các cấp ủy cơ sở tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, tổ chức quán triệt sâu rộng nội dung Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị gắn với nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII đến cán bộ, đảng viên đoàn viên, hội viên và người lao động. Đó sẽ là nguồn cổ vũ, động viên quan trọng, giúp các cơ quan, đơn vị trong Khối tăng cường đoàn kết, nỗ lực, góp phần cùng cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đã đặt ra, phấn đấu xây dựng Thanh Hóa trở thành “tỉnh kiểu mẫu” như sự tin yêu, kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu lúc sinh thời.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH NGHỆ AN

Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình và thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện chỉ thị,  nghị quyết của Đảng tại Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Nghệ An

-----

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Nghệ An có 61 tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và một số cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, hơn 4.700 đảng viên, trên 5.000 cán bộ, công chức, viên chức. Trong nhiều năm qua, cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, nhất là việc kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch. Qua đó, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ đối với công tác kiểm tra, giám sát; qua kiểm tra, giám sát giúp Ban Thường vụ Đảng ủy kịp thời đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng, đảng viên để phát huy; phát hiện, làm rõ hạn chế, khuyết điểm để khắc phục và xử lý nghiêm minh vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, góp phần giữ vững danh hiệu Đảng bộ vững mạnh.

Kính thưa quý vị đại biểu! Xác định rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt động công tác xây dựng Đảng” nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng,  Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo Điều 30, Điều 32 Điều lệ Đảng của Đảng bộ còn có không ít khó khăn, vướng mắc nhất là: Một số cấp ủy, ủy ban kiểm tra cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát; đồng chí Bí thư cấp ủy cơ sở là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh ủy viên là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nên một số nhiệm vụ như kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức, đảng viên là người đứng đầu, giám sát cấp ủy viên cùng cấp,…khó thực hiện. Việc lựa chọn, xác định nội dung, đối tượng kiểm tra để xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát còn lúng túng. Tuy nhiên, Ban Thường vụ Đảng ủy đã khắc phục khó khăn, vướng mắc tìm giải pháp để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ.

Điều 30 Điều lệ Đảng ghi rõ “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng,…”..“Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng”. Vì vậy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối xác định một trong những yêu cầu để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng bộ là xây dựng và thực hiện tốt chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát, trong đó xác định nội dung chương trình kiểm tra, giám sát phải sát, đúng, phù hợp trong từng thời gian và phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ, với phương châm thực hiện đồng bộ giữa “kiểm tra và giám sát”giám sát phải mở rộng” “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm” để chủ động phòng ngừa vi phạm và kịp thời phát hiện những nhân tố mới nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.

Ngay sau Đại hội nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối xây dựng và ban hành chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa; từ đó làm căn cứ xác định, lựa chọn nội dung để xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm phù hợp; đồng thời bám sát và thực hiện tốt chương trình đề ra.

 Để chương trình kiểm tra, giám sát có chất lượng, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối coi trọng quy trình xây dựng chương trình, hàng năm Ban Thường vụ Đảng ủy Khối căn cứ chương trình kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, chương trình công tác của Ban Thường vụ Đảng ủy, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Khối và tình hình thực tiễn của Đảng bộ để xây dựng dự thảo chương trình, xin ý kiến Ban chấp hành Đảng bộ Khối, trình Ban Thường vụ Đảng ủy Khối quyết định ban hành. Thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đặc biệt quan tâm việc xác định, lựa chọn nội dung kiểm tra, giám sát ở các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm: Kiểm tra việc lãnh đạo công tác cải cách hành chính; Lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ; Giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW về tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,…Theo đó, đã lựa chọn nội dung và đối tượng kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm như: Kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước; Quyết định 2575/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An quy định về hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa liên thông trong lĩnh vực đầu tư đối với 5 tổ chức đảng (đây là 5 đơn vị được UBND tỉnh chọn làm điểm về cải cách hành chính năm 2018 gồm: Trung tâm xúc tiến và hỗ trợ đầu tư, Sở Xây dng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính); Kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính đối với 02 tổ chức đảng (đây là 2 đơn vị được UBND tỉnh chọn làm điểm về cải cách hành chính năm 2019 gồm: Sở Giao thông-Vận tải; Sở Nội vụ); Kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (XII) về sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Nghị quyết số 19-NQ/TW về “tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” đối với 2 tổ chức đảng Sở Văn hóa và Thể thao; sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (đây là 2 đơn vị Tỉnh ủy chọn thí điểm thực hiện Nghị quyết TW6). Kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 10-CT/TW của Trung ương, Chỉ thị số 13-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về “nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”. Giám sát 2-3 tổ chức đảng việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về khắc phục các tồn tại, hạn chế sau các cuộc kiểm tra, thanh tra của các cấp,…Ngoài việc lựa chọn các nội dung trọng tâm, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối xác định thời gian kiểm tra, giám sát theo từng quý (mỗi quý 1 nội dung), đồng thời phân công cụ thể cho các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng các ban xây dựng Đảng chủ trì tham mưu thực hiện các nội dung đã được xác định trong chương trình đảm bảo quy trình, thời gian, chất lượng.

Cùng với yêu cầu xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát có chất lượng, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tập trung triển khai chương trình có hiệu lực, hiệu quả. Định kỳ sinh hoạt hàng tháng, Ban Thường vụ Đảng ủy chỉ đạo các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ được phân công chủ trì phối hợp với các ban tham mưu và Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Khối xây dựng dự thảo Quyết định (một số nội dung kiểm tra phối hợp với các cơ quan chuyên môn cử thành viên tham gia đoàn kiểm tra như: Cử cán bộ của Sở Nội vụ, UBND tỉnh); Kế hoạch kiểm tra đảm bảo quy định, yêu cầu các Đoàn kiểm tra nghiên cứu kỹ các văn bản liên quan nội dung kiểm tra, giám sát và xây dựng đề cương gợi ý cho đối tượng được kiểm tra, giám sát. Sau khi có dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, thông qua dự thảo tại tổ chức đảng được kiểm tra (Thường trực Đảng ủy Khối cùng tham dự) để nắm bắt tình hình ở từng đơn vị và có hướng chỉ đạo đối với từng nội dung kiểm tra, giám sát. Đoàn kiểm tra xây dựng dự thảo báo cáo, trình Ban Thường vụ Đảng ủy Thông báo kết luận. Các đoàn kiểm tra thường xuyên báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Thường trực, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối. Đối với từng nội dung kiểm tra, giám sát, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối yêu cầu Đoàn kiểm tra thực hiện đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình, phương pháp trong công tác kiểm tra, giám sát; phải thẩm tra, xác minh, xem xét, kết luận chính xác, làm rõ đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm và nguyên nhân đối với tổ chức đảng và đảng viên về nội dung được kiểm tra, giám sát…Nhờ vậy mà sau mỗi cuộc kiểm tra, giám sát, tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm để tiếp tục phát huy, tồn tại, hạn chế để kịp thời sửa chữa, khắc phục.

Sau khi ban hành thông báo kết luận kiểm tra, giám sát, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối gửi đến Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, các tổ chức, cá nhân có liên quan đồng thời giao Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Khối theo dõi, đôn đốc thực hiện thông báo kết luận, hàng quý báo cáo kết quả khắc phục các tồn tại hạn chế của tổ chức, cá nhân. Từ đó, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối tham mưu cho Tỉnh ủy trong chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết đồng thời kiến nghị với Ban cán sự Đảng UBND tỉnh có giải pháp phù hợp triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước. Cụ thể, từ kết quả kiểm tra Chỉ thị 10-CT/TW, giám sát Chỉ thị 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giám sát việc thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XII),… giúp Tỉnh ủy điều chỉnh một số nội dung trong bản cam kết của đảng viên về các nội dung thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW phù hợp; ban hành văn bản chỉ đạo tổ chức đảng, đảng viên khắc phục các tồn tại, hạn chế sau kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 gắn với nội dung đăng ký làm theo Bác; Tăng cường dự sinh hoạt chi bộ, cấp ủy cơ sở để nắm bắt tình hình cơ sở,… Qua kết quả kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính; kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (XII) đã kiến nghị với Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh tăng cường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện có hiệu quả hơn các chỉ thị, Nghị quyết,…

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Nghệ An rút ra một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đó là:

- Thường xuyên quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao chất lượng nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng để tổ chức đảng, đảng viên nắm vững, nâng cao nhận thức và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát.

- Cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy thường xuyên quan tâm lãnh đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, nhất là định hướng nội dung chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát phù hợp. Thực hiện tốt quy trình xây dựng chương trình, nhất là việc bám sát nội dung chương trình của cấp trên, tình hình thực tiễn của Đảng bộ Khối và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ để xây dựng chương trình có chất lượng.

- Chú trọng lựa chọn nội dung kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm: Kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đổn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kiểm tra việc lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ; việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; Công tác phòng chống, tham nhũng, lãng phí,…Kiểm tra về phẩm chất, đạo đức, lối sống và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; kiểm tra việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,… Gắn kiểm tra tổ chức đảng với kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo chuyên môn,…

- Bám sát chương trình để tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra; thực hiện đảm bảo quy trình, nguyên tắc, phương pháp công tác đảng, thủ tục các cuộc kiểm tra, giám sát. Trong quá trình kiểm tra, giám sát Ban Thường  vụ Đảng ủy Khối thường xuyên chỉ đạo, định hướng để đoàn kiểm tra thực hiện tốt nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch đã xây dựng.

- Phối hợp tốt với các cơ quan chức năng có liên quan, nhất là các cơ quan trong khối nội chính, các cơ quan chuyên môn trong quá trình triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát. Những nội dung chuyên môn thuộc các lĩnh vực khó, phức tạp cần trưng tập thành viên tham gia đoàn kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối nhằm thực hiện tốt các nội dung kiểm tra, giám sát.

- Kết luận kiểm tra, giám sát phải rõ ràng, chính xác, khách quan về ưu điểm, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên; đồng thời kiến nghị đến các cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH HÀ TĨNH

Những thuận lợi và khó khăn sau khi hợp nhất                                Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Hà Tĩnh

-----

 

Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Hà Tĩnh được hợp nhất theo Quyết định số 865-QĐ/TU, ngày 18/01/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Hiện tại, cơ quan Đảng ủy Khối có 35 cán bộ, công chức; 04 cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc gồm Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra và Văn phòng Đảng ủy, trong đó Thường trực Đảng ủy 04 đồng chí (01 Bí thư, 3 phó Bí thư), Ban Thường vụ Đảng ủy 11 đồng chí (4 đ/c thường trực, 4 trưởng ban, 3 phó ban trực). Có 105 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc (65 đảng bộ cơ sở và 40 chi bộ cơ sở) gồm 7.841 đảng viên, sinh hoạt trong các loại hình: 49 tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính, 17 tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị sự nghiệp, 16 tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, 15 tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp trên 50% vốn Nhà nước, 01 tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp dưới 50% vốn Nhà nước, 7 tổ chức cơ sở đảng trong doanh nhiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.

Sau hợp nhất, Đảng ủy Khối đã kịp thời ổn định tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ các cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy; ban hành chương trình công tác, các quy chế, quy định, phân công nhiệm vụ đối với Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối; ban hành kế hoạch thực hiện việc nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương; thành lập các khối tổ chức cơ sở đảng, hướng dẫn hoạt động của các khối; kiện toàn, sắp xếp các tổ chức đoàn thể; tạo mối đồng thuận thống nhất trong nội bộ cơ quan.

Tổ chức tiếp nhận đảng bộ Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh và Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh trực thuộc Tỉnh ủy về trực thuộc Đảng bộ Khối, chuyển giao 33 tổ chức cơ sở đảng và 711 đảng viên về trực thuộc các huyện, thành, thị ủy. Kịp thời tổ chức học tập, quán triệt và ban hành nhiều văn bản để thực hiện các chủ trương, nghị quyết, của Trung ương, Tỉnh ủy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong toàn Đảng bộ;

Lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tập trung rà soát việc thực hiện các chỉ tiêu và các giải pháp nhằm hoàn thành kế hoạch nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra; công tác quy hoạch cấp ủy cơ sở và Đảng ủy Khối nhiệm kỳ 2015 - 2020 và 2020 - 2025 đảm bảo theo quy định; thường xuyên quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác phát triển đảng viên, trong 7 tháng đầu năm tổ chức 03 lớp bồi dưỡng đối tượng đảng cho 228 quần chúng, 02 lớp đảng viên mới cho 152 đảng viên, kết nạp 134 đảng viên, công nhận 173 đảng viên chính thức; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng được chú trọng.

Chỉ đạo, tổ chức tổng kết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII, tổng kết thực hiện Quy chế bầu cử trong Đảng đảm bảo chất lượng, thời gian theo kế hoạch; sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 05 và tuyên dương 47 tập thể và cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,...

Với thời gian ngắn, Đảng ủy Khối đã đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt kế hoạch đề ra. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đã có một số cách làm sáng tạo như: Mời giảng viên cao cấp tại học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về trực tiếp giới thiệu Chuyên đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân” theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho hơn 6.000 cán bộ, đảng viên; mời chuyên gia nói chuyện chuyên đề về văn hóa công sở và đạo đức công vụ cho gần 700 cấp ủy viên và cán bộ phụ trách tuyên giáo cơ sở; chỉ đạo tổ chức tuyên dương tập thể, cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác tại Lễ chào cờ tháng 5 hằng năm và vào dịp sơ kết Chỉ thị số 05; tổ chức hội thi báo cáo viên; tổ chức họp các khối tổ chức cơ sở đảng để nắm tình hình, các kiến nghị đề xuất và giải đáp những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở. Từ đó vai trò, vị thế của Đảng ủy Khối tiếp tục được khẳng định; đồng thời phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy các cấp, vai trò của tổ chức cơ sở đảng để lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, đảng viên tham gia thực hiện các nhiệm vụ của tỉnh về xây dựng nông thôn mới, cải cách hành chính... Nhằm tạo khối đồng thuận và đoàn kết trong toàn Đảng bộ Khối, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

Việc hợp nhất Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh bước đầu có một số thuận lợi:

-  Về cơ bản không thay đổi cơ cấu tổ chức, cái được khi hợp nhất, trước hết là giảm đầu mối, từ 2 đầu mối lãnh đạo cấp ủy chỉ còn 1 đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng cao theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII.

- Sau khi hợp nhất, Đảng ủy Khối luôn nhận được sự đồng thuận, thống nhất cao trong đội ngũ cán bộ, công chức Cơ quan Đảng ủy Khối và các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc. Việc hợp nhất phù hợp với các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời sẽ thống nhất được các đầu mối, thực hiện công việc nhanh gọn, hiệu quả hơn; tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan, doanh nghiệp.

- Thông qua hợp nhất, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Khối được tăng cường; đã giúp cho sự phối hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giữa các sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh với các doanh nghiệp trong Khối được nhuần nhuyễn hơn, nhanh chóng hơn, nhất là tháo gỡ được những khó khăn của doanh nghiệp trước đây khi chưa hợp nhất.

- Chức năng, nhiệm vụ của 02 Đảng ủy Khối gần tương đồng; cơ bản đội ngũ cán bộ Cơ quan tâm huyết, trách nhiệm, có kiến thức, kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng; có tính kế thừa, có sự phối hợp tốt của lãnh đạo và cấp ủy các TCCSĐ.

- Việc hợp nhất không ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc.

Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ vẫn còn những hạn chế, khó khăn vướng mắc đó là:

Thứ nhất, việc hợp nhất Đảng bộ Khối thực hiện theo phương án nhập cơ học. Trước khi hợp nhất, Đảng ủy Khối Các cơ quan có 20 biên chế, 67 tổ chức cơ sở đảng; Đảng ủy Khối Doanh nghiệp có 17 biên chế, 68 tổ chức cơ sở đảng. Sau hợp nhất, Cơ quan Đảng ủy Khối có 36 biên chế, đã luân chuyển 01 đồng chí, hiện nay còn 35 biên chế; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối 43 đồng chí; Ban Thường vụ Đảng ủy Khối 11 đồng chí; có ban 02 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, 02 đồng chí phó trưởng ban. Vì vậy, bước đầu ngay sau hợp nhất, Đảng ủy Khối có khó khăn, lúng túng trong phân công nhiệm vụ các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, phân công các thành viên trong cơ quan.

Theo Đề án, đến năm 2021, Cơ quan Đảng ủy Khối có 28 biên chế chuyên trách, như vậy cơ quan đang còn dôi dư 06 đồng chí. Việc xây dựng phương án nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ Khối nhiệm kỳ 2020 - 2025 đối với cán bộ chuyên trách tại cơ quan Đảng ủy Khối sẽ gặp khó khăn do hiện nay 01 ban có 02 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, 02 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành, việc chọn ai, cơ cấu như thế nào đang là vấn đề cần quan tâm.

Thứ hai, số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên lớn (105 đảng bộ, chi bộ cơ sở với gần 8.000 đảng viên), đa dạng về loại hình; địa bàn hoạt động rộng; bên cạnh đó, tổ chức Công đoàn tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp còn chồng chéo và chưa bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống (một số đơn vị thuộc công đoàn: ngành, khu kinh tế, các tập đoàn, tổng công ty) nên việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng còn gặp khó khăn, vướng mắc.

Thứ ba, sau khi sáp nhập, Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh vẫn là Đảng bộ đặc thù (không có chính quyền cùng cấp), chức năng, nhiệm vụ chậm được bổ sung, sửa đổi; chưa có sự thống nhất trong toàn quốc, việc lãnh đạo, chỉ đạo, sự phối hợp để thực hiện nhiệm vụ còn gặp khó khăn; nhất là lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và lãnh đạo thực hiện công tác cán bộ, quản lý cán bộ, đảng viên.

Để việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng đảng tại Đảng bộ Khối thời gian tới đạt kết quả tốt, tại Hội nghị lần này, chúng tôi xin mạnh dạn kiến nghị, đề xuất  với Ban Tổ chức Trung ương một số nội dung sau:

1. Thống nhất mô hình Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh, thành phố trong toàn quốc; ban hành quy định chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy thay thế Quy định số 293, 294 để đảm bảo tính phù hợp thực tiễn, trong đó bổ sung một số nhiệm vụ: Công tác dân vận; Công tác nội chính; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

2. Thành lập Công đoàn Khối thuộc Đảng ủy Khối nhằm đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Đảng đối với các tổ chức đoàn thể.

3. Sửa đổi, bổ sung: Tại Khoản 1, Điều 10, Điều lệ Đảng: “Hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước; đối với trường hợp đặc biệt như mô hình Đảng bộ Khối thống nhất thành lập Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh trực thuộc Tỉnh ủy, Thành ủy trong toàn quốc.

4. Sơ kết, tổng kết, bổ sung, sửa đổi các quy định: Quy định số 76 của Bộ Chính trị (năm 2000); Quy định số 97, 98 (năm 2004); Quy định số 287, 288 (năm 2010); Quy định số 170 (năm 2013).

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH

Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở                     trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Bình

-----

Tháng 6 năm 1997, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã ban hành Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh. Tiếp sau đó, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị khoá VIII đã ban hành Chỉ thị 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” để cụ thể hoá Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; chúng ta xem đây là một khâu quan trọng và cấp bách để phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (CCVC) và người lao động - nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cũng là nơi thực hiện quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất trong toàn Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Bình.

Thực trạng triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở Đảng bộ Khối

Trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Quảng Bình, Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, và văn bản chỉ đạo gần đây nhất là Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị khoá XI về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được các cấp ủy trực thuộc phối hợp với lãnh đạo chuyên môn cụ thể hóa thành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình hình từng cơ quan, đơn vị nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối cũng đã triển khai nhiều cuộc kiểm tra, tổ chức đánh giá, sơ kết, tổng kết, ban hành các văn bản tiếp tục lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng thực hiện phù hợp với từng giai đoạn.

Thực hiện các chỉ thị, kết luận của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, thời gian qua, nhất là trong những năm gần đây, việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (QCDC) trong các tổ chức cơ sở đảng của các cơ quan, đơn vị thuộc Khối các cơ quan đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị - xã hội, của cán bộ, đảng viên, CCVC và người lao động ngày càng được nâng lên. Thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính nhiều nơi có sự chuyển biến tích cực. Công tác đối thoại, tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được quan tâm hơn trước. Tinh thần, thái độ phục vụ Nhân dân, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan tham mưu, giúp việc có tiến bộ. Ban Thanh tra nhân dân hoạt động khá hiệu quả, phát huy được dân chủ trực tiếp của cán bộ, CCVC và người lao động, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Có được những kết quả nêu trên trước hết là do các cấp uỷ, lãnh đạo chuyên môn quan tâm, phối hợp triển khai thực hiện nhịp nhàng; luôn đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở; cán bộ, CCVC và người lao động đồng tình ủng hộ, hưởng ứng và tích cực tham gia. Đặc biệt là, Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở các cơ quan, đơn vị đã có nhiều cố gắng, hoạt động sáng tạo, đề cao trách nhiệm tham mưu với cấp uỷ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm theo các Cụm qua hoạt động kiểm tra, giám sát để nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay, đồng thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc.

Việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị trong Khối các cơ quan tỉnh theo các nghị định của Chính phủ qua các thời kỳ và Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/102015 của Chính phủ, Thông tư số 01/2016/TT-BNV, ngày 13/01/2016 của Bộ Nội vụ gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn và vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, CCVC và người lao động theo từng vị trí việc làm trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị; việc xây dựng, bổ sung nội quy, quy chế, thực hiện công khai, minh bạch các chế độ chính sách, chương trình, kế hoạch công tác,…và các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cán bộ, CCVC; việc chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc nhằm nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ Nhân dân; việc xây dựng các quy trình, quy định trong điều hành, quản lý hoạt động của cơ quan, đơn vị và việc  quy định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng vị trí việc làm, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, của cán bộ, CCVC, đảm bảo quyền“được biết, được bàn, được tham gia, được kiểm tra, giám sát” trong quá trình thực hiện.

Lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể, trường học thường xuyên quan tâm chỉ đạo sắp xếp tổ chức bộ máy, đề bạt, luân chuyển cán bộ; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ; rà soát, bãi bỏ một số văn bản không phù hợp, các thủ tục gây phiền hà; đăng tải công khai, dân chủ các thông tin và giải quyết thủ tục hành chính qua hệ thống thông tin điện tử, trang Web của từng cơ quan, đơn vị. Mô hình “Một cửa” điện tử hiện đại trong giải quyết các thủ tục hành chính đã được triển khai hiệu quả ở nhiều cơ quan, đơn vị trên địa bàn Tỉnh, nhất là các đơn vị trong ngành Tài chính. Các ngành, các cấp trong Tỉnh tích cực thực hiện nghiêm túc chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tạo được sự chuyển biến rõ nét trong công tác này. Kết quả xếp hạng chỉ số cải cách hành chính của Tỉnh trong những năm đạt kết quả tích cực, đứng tốp đầu trong cả nước.

Thực hiện Nghị định số 60/2013/NĐ-CP, ngày 19/6/2013 của Chính phủ “Quy định chi tiết tại Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc”, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong Khối đã quan tâm nghiên cứu, chỉ đạo triển khai thực hiện. Tổ chức Công đoàn các cấp đã chủ động phối hợp với Ban Giám đốc, Lãnh đạo các ngành, đoàn thể, trường học, bệnh viện xây dựng chương trình thực hiện QCDC trong các cơ quan, đơn vị theo chủ trương của Chính phủ; nhiều phong trào thi đua yêu nước được phát động, người lao động đã phát huy quyền làm chủ tập thể trong thực thi nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.

Qua hơn 20 năm triển khai thực hiện, Chỉ thị 30-CT/TW thực sự đã đi vào cuộc sống và đạt kết quả toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở được cụ thể hóa thực hiện phù hợp với điều kiện phát triển của Tỉnh nhà cũng như của từng cơ quan, đơn vị. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở cơ sở được mở rộng, cán bộ, CCVC và người lao động trong Khối được biết, được bàn và quyết định những công việc thiết thực gắn liền với lợi ích chính đáng của mình; quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được bảo vệ. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Công tác tuyên truyền, giáo dục từng bước được đổi mới và có trọng tâm, trọng điểm. Công tác giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền gắn với việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở được các tổ chức chính trị - xã hội chú trọng triển khai thực hiện và trên thực tế đã đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Việc thực hiện tốt QCDC ở cơ sở đã tạo dựng được lòng tin, phát huy tốt vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của cán bộ, CCVC và người lao động trong Khối, động viên mọi người tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, trong đó nổi lên là phong trào thi đua “Dân vận khéo”, góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và đồng thuận trong xã hội hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Từ kết quả đạt được trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ trong các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Khối như đã nêu trên, một lần nữa khẳng định Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII ra đời là cần kíp, đúng đắn, thể hiện một bước tiến mới về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, CCVC và người lao động trong Khối; được cả hệ thống chính trị đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ, nghiêm túc, tích cực triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong suốt 20 năm qua.

Một số hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót như: Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách, của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị chưa kịp thời, chưa sâu; nhiều nơi thực hiện còn hình thức, mang tính đối phó. Việc công khai các nội dung liên quan đến thực hiện Quy chế dân chủ tại Trụ sở ở một số cơ quan, đơn vị chưa đầy đủ, chưa tạo thuận lợi cho cán bộ, CCVC và người lao động tiếp cận thông tin.

Việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” có lúc, có khâu còn hình thức, thậm chí mang tính áp đặt; việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, CCVC và người lao động tham gia bàn và quyết định trực tiếp các vấn đề quan trọng của cơ quan, đơn vị có nơi hạn chế.

 Hình thức, phương pháp tổ chức cho cán bộ, CCVC và người lao động tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở một số nơi chưa được mở rộng; hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân có nơi hiệu quả còn thấp. Chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm của người lao động trong việc thực hiện các quyền dân chủ, tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của chính mình.

Một số bài học kinh nghiệm rút ra

Thứ nhất, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm trước tiên trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị là của cấp ủy đảng, của lãnh đạo chuyên môn và của cả hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Thực tiễn cho thấy, Quy chế dân chủ chỉ được thực hiện tốt khi cấp uỷ, lãnh đạo chuyên môn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; tăng cường kiểm tra, giám sát, đây được xem là yếu tố quyết định sự thành công trong việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.

Thứ hai, phải luôn phát huy rõ vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình, xây dựng nội bộ tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đoàn kết, thống nhất, gắn với triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính gắn với thực hiện công tác dân vận chính quyền; tăng cường kỷ luật, xiết chặt kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ; xử lý nghiêm minh đối với các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân; kiên quyết đấu tranh, xử lý đối với những trường hợp lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước làm mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ ba, xác định việc xây dựng và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở là phải phát huy được nguồn nhân lực, những khả năng tiềm tàng trong cơ quan, đơn vị thông qua việc xây dựng thành các quy chế, quy định, quy trình,… nhằm thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch các hoạt động diễn ra ở cơ sở, nhất là các lĩnh vực có liên quan đến lợi ích tập thể và quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.

Thứ tư, nâng cao chất lượng dân chủ trực tiếp; tăng cường đối thoại, tiếp xúc và đổi mới các hình thức lấy ý kiến tham gia của cán bộ, CCVC và người lao động trong Khối, tích cực vận động mọi người thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân; kết hợp phát động các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, xem đây là cơ sở cần thiết, quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.

Thứ năm, thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn, phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở trong các cơ quan, đơn vị; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu và chỉ đạo thực hiện; chú trọng công tác hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng kịp thời những điển hình tiên tiến trong thực hiện QCDC; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo sự lan toả trong xã hội.

 

Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các tổ chức cơ sở đảng trong thời gian tới

Từ những bài học kinh nghiệm nêu trên, để công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các tổ chức cơ sở đảng trong toàn Đảng bộ Khối cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, phối hợp chặt chẽ với Lãnh đạo cơ quan, đơn vị, Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là người đứng đầu tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc để cán bộ, CCVC và người lao động nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa về các chủ trương, quan điểm chỉ đạo thể hiện trong Chỉ thị số 30 - CT/TW và Kết luận số 120 - KL/TW của Bộ Chính trị cũng như các văn bản liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong từng cơ quan, đơn vị thuộc Khối.

Hai là, xác định việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ và phát huy dân chủ là công việc thường xuyên, liên tục, là động thực hiện nhiệm vụ chính trị và là điều kiện để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, lợi ích chính đáng của người lao động; thực hiện tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội; sống có nghĩa tình, ứng xử có văn hoá nơi công sở; bảo đảm an ninh, an sinh xã hội, tạo động lực cho các phong trào thi đua lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Ba là, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành, bảo đảm chính sách, pháp luật được thực thi có hiệu quả tại các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi để thực hiện nhanh gọn, chính xác các thủ tục hành chính.

Bốn là, nâng cao đạo đức công vụ, chất lượng phục vụ Nhân dân, giải quyết kịp thời những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp cũng như các đơn thư khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh các điểm nóng, vụ việc phức tạp, kéo dài; xây dựng chính quyền thật sự thân thiện, gần dân, hiểu dân, trọng dân, vì dân và biết xin lỗi Nhân dân.

Năm là, phát huy vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, lãnh đạo chuyên môn trong các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo thực hiện phát huy dân chủ trong Đảng, công khai, minh bạch trong điều hành; đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của cán bộ, CCVC và người lao động.

Sáu là, thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan, đơn vị. Tạo điều kiện tốt nhất để Ban Chỉ đạo hoạt động, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đưa việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào hoạt động có nền nếp, thực chất và hiệu quả.

Bảy là, chú trọng xây dựng, biểu dương, khen thưởng các gương điển hình tiên tiến, mô hình tốt về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở để nhân rộng, tạo sức lan tỏa, không ngừng phát huy dân chủ, khơi dậy tiềm năng, sức mạnh của cán bộ, CCVC và người lao động nhằm góp phần thúc đẩy các phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng các cấp và Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Tóm lại, để tiếp tục phát huy hiệu quả việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, trong thời gian tới, các cấp ủy cơ sở cần thống nhất cơ chế phối hợp với lãnh đạo các trong các cơ quan, đơn vị để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt, phổ biến, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức hơn nữa cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, CCVC và người lao động về dân chủ và việc thực hiện QCDC ở cơ sở. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo chuyên môn và các tổ chức chính trị - xã hội, gắn việc thực hiện QCDC ở cơ sở với thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính. Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, chất lượng Ban Thanh tra nhân dân; bảo đảm công khai, minh bạch trong tất cả các hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh cũng đề nghị Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC tỉnh Quảng Bình xây dựng được Bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, làm căn cứ cho các cơ quan, đơn vị có cơ sở đánh giá chất lượng, xếp loại chính xác và thống nhất trong toàn Đảng bộ.

 

 

 

ĐẢNG UỶ KHỐI CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH QUẢNG TRỊ

Tình hình tổ chức bộ máy và công tác cán bộ của Cơ quan Đảng uỷ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị sau khi hợp nhất

------

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tin gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; Kết luận số 34-KL/TW ngày 07/8/2018 của Bộ Chính trị "về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tin gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; Kế hoạch số 86-KH/TU, ngày 07/5/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị "về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tin gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, ngày 26/6/2019 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị đã Quyết định ban hành Đề án hợp nhất Đảng bộ Khối Các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh, thành lập Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh nhằm sắp xếp lại tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trực thuộc Tỉnh uỷ, giảm biên chế, nâng cao hiệu quả hoạt động theo hướng tập trung chủ yếu vào công tác xây dựng Đảng.

Tình hình tổ chức bộ máy và biên chế của 02 cơ quan Đảng uỷ Khối trước khi hợp nhất:

- Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh 16 biên chế:

+ Thường trực Đảng ủy: 02 đồng chí; Văn phòng: 05 đồng chí; Ban Tổ chức: 02 đồng chí; Ban Tuyên giáo: 02 đồng chí; Cơ quan Ủy ban Kiểm tra: 03 đồng chí;  Đoàn Thanh niên Khối: 02 đồng chí:

- Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh 16 biên chế:

+ Thường trực Đảng ủy: 01 đồng chí; Văn phòng: 05 đồng chí; Ban Tổ chức: 03 đồng chí; Ban Tuyên giáo: 02 đồng chí; Cơ quan Ủy ban Kiểm tra: 03 đồng chí;  Đoàn Thanh niên Khối: 02 đồng chí.

 Tình hình tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, Ban Chấp hành và đoàn thể của 02 Đảng bộ Khối trước khi hợp nhất:

- Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh có 57 tổ chức cơ sở đảng với 2.560 đảng viên. Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020 có 26 đồng chí. Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh có 07 đồng chí. Đoàn thanh niên với 40 tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc.

- Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh có 55 tổ chức cơ sở đảng  với 1.774 đảng viên. Ban Chấp hành Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020 có 19 đồng chí. Ban Thường vụ Đảng uỷ có 07 đồng chí. Đoàn thanh niên với 42 tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc.

Tình hình tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan Đảng uỷ Khối sau khi hợp nhất:

- Tổ chức bộ máy của Đảng uỷ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh sau khi hợp nhất trước mắt thực hiện trên cơ sở Quy định số 293-QĐ/TW ngày 23/3/2010, Quy định số 294-QĐ/TW ngày 23/3/2010 của Ban Bí thư: Thường trực Đảng uỷ; 04 cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc (văn phòng, tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo) và Đoàn Thanh niên Khối.

- Biên chế của cơ quan Đảng uỷ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh sau khi hợp nhất có 25 biên chế: (giảm 07 biên chế so với số lượng biên chế của 02 Đảng uỷ trước khi hợp nhất) gồm:

+ Thường trực: 03 biên chế; Văn phòng: 07 biên chế; Ban Tổ chức: 04 biên chế; Cơ quan Ủy ban Kiểm tra: 05 biên chế; Ban Tuyên giáo: 03 biên chế; Đoàn thành niên: 03 biên chế:

- Ban Chấp hành Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh được chỉ định có 27 đồng chí, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối có 09 đồng chí, Thường trực Đảng uỷ có 03 đồng chí (01 đồng chí Quyền Bí thư, 02 đồng chí Phó Bí thư)

- Đối với các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên: Sau khi hợp nhất, Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh có 81 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc với hơn 4.500 đảng viên.

Ngay từ khi Quyết định thành lập Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh có hiệu lực (ngày 01/7/2019), được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, sự phối hợp và hướng dẫn kịp thời về mặt nghiệp vụ của các Ban Đảng, Văn phòng Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã xây dựng kế hoạch để thực hiện Đề án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đã xác định rõ nội dung, thời gian thực hiện và phân công nhiệm vụ cho các Ban, bộ phận để tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả.

Việc tiếp nhận, bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức được tiến hành thận trọng, bảo đảm khách quan, minh bạch, công tâm, hợp tình, hợp lý; có tính kế thừa, phát triển; phát huy dân chủ; nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, ổn định tư tưởng, giải quyết thỏa đáng, hợp lý các chế độ chính sách theo đúng quy định cho cán bộ, công chức nên đã tạo được sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất cao. Sau khi hợp nhất đã giảm được 07 biên chế so với số lượng biên chế của 02 Đảng uỷ Khối trước khi hợp nhất:

 - 01 đồng chí UVTV Trưởng ban Tuyên giáo, 01 đồng chí UVTV Chủ nhiệm UBKT, 01 đồng chí Đảng uỷ viên Bí thư Đoàn Khối, 02 đồng chí Chuyên viên được điều động đến công tác tại các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh uỷ.

- 01 đồng chí Phó Chánh Văn phòng được điều động đến công tác tại Huyện uỷ Hải Lăng.

 - 01 đồng chí nhân viên lái xe hợp đồng theo Nghị định 68 của Chính phủ được điều động đến công tác tại Hội Cựu Chiến binh tỉnh.

Thực hiện bố trí chức vụ tương đương, nếu không còn vị trí để bố trí chức vụ tương đương thì bố trí chức vụ thấp hơn một cấp so với chức vụ hiện giữ (cấp trưởng bố trí làm cấp phó, cấp phó bố trí làm chuyên viên) và được bảo lưu hệ số phụ cấp chức vụ theo Quyết định số 140/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ “về bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với các chức danh lãnh đạo trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy”:

-  01 đồng chí Đảng uỷ viên, Chánh Văn phòng Đảng uỷ chuyển làm Phó Chánh Văn phòng Đảng uỷ.

- 01 đồng chí Phó trưởng Ban Tổ chức; 01 đồng chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo chuyển làm chuyên viên.

Sau 2 tháng khẩn trương tổ chức thực hiện Đề án, đến nay bộ máy cơ quan Đảng uỷ Khối đã cơ bản ổn định và đi vào hoạt động có nền nếp; đã thông qua và ban hành Quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra giám sát toàn khoá của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối, xây dựng Kế hoạch tổ chức Đại hội Đảng cấp cơ sở và Đại hội Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh lần thứ II, nhiệm kỳ 2020-2025. Tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và toàn cán bộ công chức, viên chức cơ quan Đảng uỷ Khối đoàn kết, thống nhất; cán bộ đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong Khối tin tưởng vào sự lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, hăng hái thi đua lập nhiều thành tích trong công tác hướng đến chào mừng các sự kiện chính trị trọng đại của quê hương đất nước; kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Việc tinh giản tổ chức bộ máy, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ theo Nghị quyết 18 của BCH TW (Khóa XII) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là yêu cầu cơ bản trước mắt vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài của Đảng ta. Đây cũng là việc mới, việc khó, được dư luận đặc biệt quan tâm; đòi hỏi sự vào cuộc cả hệ thống chính trị, nhất là vai trò quan trọng của Đảng ủy khối Cơ quan và Doanh nghiệp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới, tại diễn đàn này, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị xin kiến nghị một số nội dung:

- Đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư kịp thời ban hành các quy định sửa đổi Quy định 293-QĐ/TW ngày 23/03/2010, Quy định 294-QĐ/TW ngày 23/03/2010 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của 02 Đảng uỷ Khối; ban hành bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các Đảng uỷ Khối cơ quan tỉnh, thành phố để sớm tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện (Hiện nay, mỗi tỉnh đang triển khai theo một cách làm khác nhau, chưa tạo được sự đồng bộ, thống nhất trong toàn Khối).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Việc triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy Khối

Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế

-----

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng là mục tiêu xuyên suốt của Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nói chung và của Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.

Đảng bộ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh (Đảng bộ Khối) được hợp nhất Đảng bộ Khối các Cơ quan và Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh theo Quyết định số 1658-QĐ/TU, ngày 25/12/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đảng bộ Khối hiện có 91 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, gồm: 49 đảng bộ cơ sở (trong đó có 9 đảng bộ bộ phận và 44 chi bộ trực thuộc, 361 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở) và 42 chi bộ cơ sở. Các TCCS đảng có chức năng, nhiệm vụ theo các quy định của Ban Bí thư Trung ương gồm: 73 Cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp; 18 doanh nghiệp Nhà nước chiếm giữ trên 50% vốn điều lệ trở lên.

Các tổ chức đoàn thể gồm: Đoàn Khối có 69 tổ chức cơ sở Đoàn trực thuộc với 5.206 đoàn viên; Hội Cựu Chiến binh Khối có 45 hội cơ sở trực thuộc với 606 hội viên; 91 tổ chức công đoàn cơ sở dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy cơ sở, với hơn 20 nghìn đoàn viên công đoàn.

Trong những năm qua, Đảng ủy Khối đã bám sát chức năng, nhiệm vụ theo quy định; bám sát đặc điểm của Đảng ủy cấp trên cơ sở không có chính quyền cùng cấp; quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; đặc biệt là các nghị quyết về xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị, về cải cách hành chính, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; toàn Đảng bộ Khối đã xác định rõ trọng tâm, trọng điểm qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết chuyên đề, tạo được nhiều chuyển biến tích cực trong xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Khối nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được tập trung thực hiện, từng bước nâng cao chất lượng theo hướng đề cao trách nhiệm tự nghiên cứu của đảng viên, chú trọng đổi mới công tác nghiên cứu, quán triệt nghị quyết. Việc tổ chức quán triệt nghiêm túc các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy đã nâng cao nhận thức đường lối, chủ trương của Đảng trong đội ngũ đảng viên toàn Đảng bộ, làm cơ sở để tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao theo chức năng, thẩm quyền. Việc nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến quan trọng, thúc đẩy việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đảng viên, chú trọng phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.

Sinh hoạt chi bộ, cấp ủy ngày càng nền nếp; chất lượng sinh hoạt chi bộ tiếp tục chuyển biến tích cực; việc sinh hoạt chuyên đề hàng quý được các tổ chức đảng duy trì, giúp chi bộ có điều kiện xem xét sâu, có nghị quyết kịp thời về những vấn đề quan trọng trong phạm vi trách nhiệm lãnh đạo của chi bộ. Công tác quản lý đảng viên, đánh giá phân tích chất lượng đảng viên, phân loại tổ chức cơ sở đảng có nhiều tiến bộ, tạo cơ sở để Ban Thường vụ Đảng ủy Khối thực hiện tốt việc nhận xét, đánh giá đảng viên (khi có yêu cầu), tham gia tốt công tác cán bộ theo thẩm quyền và trách nhiệm của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối khi có yêu cầu, việc chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh được tập trung, tạo chuyển biến tốt; công tác phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đảng viên thực hiện nghiêm túc, khách quan, ngày càng sát thực chất.

Qua phong trào thi đua yêu nước, hoạt động thiết thực của các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức cơ sở đảng trong toàn Đảng bộ đã chú trọng tạo nguồn cảm tình đảng, tích cực bồi dưỡng nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng, thử thách, xem xét kết nạp; công tác phát triển đảng viên mới ở khá nhiều tổ chức cơ sở có nhiều tiến bộ.

Cùng với việc củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội, Đảng bộ đã thực hiện khá tốt công tác dân vận, nhất là công tác dân vận của các cơ quan quản lý nhà nước, tạo sự chuyển biến tích cực về ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức.

Công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên được chú trọng, tập trung vào việc quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết, thực hiện các nguyên tắc của Đảng; vào các khâu dễ phát sinh tiêu cực, sai phạm, xử lý nghiêm minh sai phạm và có tác dụng ngăn ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Trong quá trình hoạt động và lãnh đạo, các cấp uỷ đảng đã chú trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng và hoạt động theo quy chế. Sau mỗi đợt phát động thi đua, học tập đều có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm. Trong sinh hoạt luôn đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, phê bình thẳng thắn, nội bộ đoàn kết thống nhất.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động công tác xây dựng Đảng, đó là việc nắm bắt diễn biến, đánh giá tình hình tư tưởng, định hướng tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác đảng viên… còn nhiều khó khăn, bất cập; công tác quản lý đảng viên còn lúng túng, chưa nắm sát các mối quan hệ xã hội chủ yếu của đảng viên; việc củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở đảng yếu kém còn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó sự chuyển biến của tổ chức cơ sở đảng chưa thật sự đồng đều, chưa vững chắc. Tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ ở một số đơn vị vẫn còn hạn chế. Hoạt động của các đoàn thể cũng còn những hạn chế, phương thức hoạt động có lúc, có nơi chưa phù hợp. Mô hình tổ chức công đoàn chưa thật hợp lý, còn chồng chéo, chưa theo hệ thống tổ chức Đảng, ảnh hưởng đến sự lãnh đạo thống nhất giữa tổ chức Đảng và đoàn thể.

Sở dĩ còn tồn tại những khó khăn, hạn chế nêu trên là do chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng bộ Khối được quy định chưa được rõ ràng, chưa toàn diện, nên chưa tạo điều kiện và đủ sức mạnh để lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng, nhất là công tác tổ chức, cán bộ. Về số lượng và khối lượng công việc chuyên môn nghiệp vụ ở các ban, ủy ban kiểm tra và văn phòng hiện nay được cấp có thẩm quyền giao nhiều, biên chế lại hạn chế, thì chưa đáp ứng được nhu cầu công việc, nên đã ảnh hưởng không ít đến kết quả họat động, khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thực hiện nhiệm vụ.

Tóm lại, qua thực tiễn hoạt động, Đảng bộ Khối đã tự khẳng định vị trí, vai trò của mình theo chức năng, nhiệm vụ được quy định. Mặc dù không có chính quyền cùng cấp, song trên lĩnh vực xây dựng Đảng, Đảng ủy Khối đã và đang phát huy tốt, ngày càng mang lại hiệu quả xây dựng các chi bộ, đảng bộ trực thuộc thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Các cấp ủy cơ sở đã nâng cao nhận thức, quan tâm xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, về vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng và chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, chăm lo công tác xây dựng Đảng, giữ vững và phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở. Nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng được đổi mới, chất lượng và hoạt động ở cơ sở có nhiều chuyển biến tiến bộ. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường và có nhiều đổi mới về phương pháp; nội dung kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm đảm bảo quy trình, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thật sự trong sạch vững mạnh. Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối luôn phát huy dân chủ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, do đó phát huy được vai trò, trách nhiệm của tập thể trong toàn bộ hoạt động của Đảng bộ khối.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, đồng thời phát huy năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của Đảng ủy Khối, nhằm phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn, hạn chế, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, nhất là sau khi có Nghị quyết số 18- NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” trong thời gian tới đề nghị Trung ương cần quan tâm một số nội dung sau:

Đề nghị Trung ương sớm có quy định về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ  máy của Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp để có sự thống nhất trong toàn Đảng (đối với những nơi đã hợp nhất 2 Đảng bộ Khối), trong đó cần quy định rõ thẩm quyền của Đảng ủy Khối trong lãnh đạo công tác cán bộ, bao gồm cả nhận xét, đánh giá trước khi đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu cán bộ ứng cử; số lượng cán bộ biên chế của các ban, ủy ban kiểm tra và văn phòng Đảng ủy Khối, bổ sung nhiệm vụ lãnh đạo công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, công tác dân vận, đoàn thể.

Để tiếp tục góp phần xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, trong thời gian tới cấp ủy các cấp cần phải thật sự chủ động hơn nữa trong việc xây dựng và lãnh đạo thực hiện kịp thời các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy; xây dựng và ban hành các quy định về tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ; rà soát và bổ sung quy chế làm việc, quy chế phối hợp với lãnh đạo các ban đảng Tỉnh ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách chỉ đạo điều hành, phát huy nội lực, nâng cao khả năng tự vươn lên của cơ sở. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn liền với thực hiện kỷ cương, kỷ luật, nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đối với đảng viên về việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh của đảng viên và quần chúng; kịp thời tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để tránh những vấp váp, thiếu sót, góp phần hoàn thiện và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới./.

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH QUẢNG NAM

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy,   

     tổ chức đảng cơ sở trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Nam

-----

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Nam có 64 tổ chức cơ sở đảng, gồm 36 đảng bộ và 28 chi bộ cơ sở; tổ chức đảng trực thuộc cơ sở gồm 01 đảng bộ bộ phận và 291 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, với 3.773 đảng viên, trong đó có 459 cấp ủy viên cơ sở.

Xác định tổ chức đảng và đảng viên trực thuộc Đảng bộ Khối có vị trí, vai trò rất quan trọng, mang tính quyết định trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương; trên cơ sở Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 16/4/2013 của Tỉnh ủy Quảng Nam về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tiến hành khảo sát ở từng tổ chức cơ sở đảng, tổng hợp, đánh giá sát đúng những mặt hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở và xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện, đặc thù của Đảng bộ Khối. Trong những năm qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã tập trung, bám sát các nhóm nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong chương trình hành động, kiên trì và quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy cơ sở thực hiện nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Khối.

Thường xuyên nghiên cứu nắm vững, kịp thời cụ thể hóa và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Trung ương và Tỉnh ủy về thi hành Điều lệ Đảng, công tác xây dựng Đảng.

Ngay sau khi tiếp nhận và được quán triệt, học tập các quy định, chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn... của Trung ương và Tỉnh ủy, Thường trực Đảng ủy Khối đã tập trung chỉ đạo, triển khai cho cán bộ, đảng viên các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Khối nghiên cứu kỹ nội dung, tham mưu đề xuất việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Khi cần thiết, tổ chức sinh hoạt chuyên đề để thảo luận làm rõ, thống nhất về nhận thức và cách thức triển khai, thực hiện đối với những nội dung mới, phức tạp, khó hiểu. Sau khi đã cụ thể hóa bằng các văn bản, Ban Thường vụ Đảng ủy tiến hành quán triệt cho cấp ủy viên cơ sở, chỉ đạo các cấp ủy cơ sở căn cứ tình hình thực tiễn để cụ thể hóa phù hợp và quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc; hằng năm đều xây dựng kế hoạch kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những tổ chức đảng thực hiện chưa đạt yêu cầu.

Để đảm bảo công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Khối được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ và có cơ sở cụ thể để đánh giá việc thực hiện của các tổ chức cơ sở đảng, trong những năm qua Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành nhiều quy định, hướng dẫn theo hướng nâng cao chất lượng, chặt chẽ về quy trình trên cơ sở các quy định, hướng dẫn chung, như: Quy định phân cấp quản lý cán bộ; Quy định về kiểm điểm đánh giá, xếp loại cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Đảng ủy Khối quản lý; Hướng dẫn thực hiện khung tiêu chí đánh giá, phân loại chất lượng sinh hoạt chi bộ; Khung tiêu chí đánh giá xếp loại tổ chức đảng và đảng viên hằng năm; Xây dựng đề tài khoa học cấp tỉnh về “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở các cơ quan, đơn vị thuộc Đảng bộ”...

Kịp thời củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng; tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; xây dựng chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh

Việc củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng tương ứng với tổ chức bộ máy của cơ quan, đơn vị luôn được quan tâm, thực hiện khi có chủ trương chia tách, sáp nhập, thành lập mới cơ quan, tổ chức và kịp thời chỉ đạo thành lập các tổ chức đoàn thể tương ứng. Chỉ đạo xây dựng đề án, thành lập các đảng bộ cơ sở trên nền tảng các chi bộ cơ sở đối với các tổ chức đảng có quy mô trên 30 đảng viên và thành lập các tổ đảng đối với các chi bộ có đông đảng viên, phù hợp với điều kiện cụ thể.

Thực hiện nghiêm chủ trương tăng cường về cơ sở, sâu sát cơ sở; phân công các đồng chí ủy viên ban thường vụ chuyên trách theo dõi các tổ chức cơ sở đảng. Hằng tháng, các đồng chí được phân công có trách nhiệm sắp xếp thời gian dự sinh hoạt, làm việc với cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ để nắm tình hình, kịp thời chỉ đạo giải quyết những khó khăn, những vấn đề nổi cộm; hướng dẫn, giải đáp những vướng mắc về nghiệp vụ trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở, nhất là việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện sai trái, lệch lạc của cán bộ, đảng viên.

Chú trọng xây dựng đội ngũ cấp ủy các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng; thường xuyên kiện toàn, củng cố đảm bảo đủ về số lượng và nâng cao chất lượng; hằng năm mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở;  lãnh đạo thực hiện nhất quán chủ trương thủ trưởng cơ quan, đơn vị đồng thời là bí thư cấp ủy.

Chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ cơ sở thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy chế làm việc; kịp thời kiện toàn cấp ủy khi có biến động; xây dựng chương trình công tác toàn khóa, năm, quý, tháng; đổi mới phong cách, lề lối làm việc. Hiện nay, 100% chi bộ, đảng bộ cơ sở đã xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của ban chấp hành nhiệm kỳ 2015 – 2020; trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị và các đoàn thể. Do đó sự lãnh đạo, chỉ đạo, mối quan hệ công tác giữa cấp ủy với các tổ chức trong hệ thống chính trị đã đi vào nền nếp, hoạt động hiệu quả hơn.

Việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối quan tâm lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng chi bộ, chất lượng đảng viên, quyết định vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Các chi bộ, đảng bộ cơ sở đã duy trì nền nếp sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ định kỳ, tổ chức sinh hoạt chuyên đề từ 3- 4 kỳ/năm; tỷ lệ đảng viên tham gia các kỳ sinh hoạt chi bộ đạt trung bình từ 90-95%, nhiều chi bộ đạt 100% đảng viên tham dự sinh hoạt các kỳ trong năm. Nội dung sinh hoạt từng bước được đổi mới theo hướng đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tinh thần thẳng thắn trong thảo luận, tự phê bình và phê bình, góp phần tăng cường, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo và trở thành nội dung thường xuyên trong các kỳ sinh hoạt chi bộ, chú trọng vào việc phòng chống 27 biểu hiện suy thoái Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.

Một trong những giải pháp quan trọng mà Đảng ủy Khối tỉnh Quảng Nam thực hiện trong những năm qua để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, đó là việc đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng. Ngay từ đầu năm, hướng dẫn các chi bộ, đảng bộ đăng ký phấn đấu xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và ban hành bộ tiêu chí, thang điểm đánh giá, xếp loại tổ chức đảng; giao trách nhiệm các đồng chí đảng ủy viên, ủy viên ban thường vụ được phân công phụ trách thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện. Cuối năm, trên cơ sở kết quả tự đánh giá, xếp loại của cơ sở và kết quả theo dõi, chấm điểm, đánh giá của các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy và các đoàn thể trong Khối, Ban Thường vụ Đảng ủy tiến hành họp, đánh giá và biểu quyết bằng phiếu kín, phân loại đối với từng tổ chức cơ sở đảng. Nhờ đó, việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng đảm bảo nghiêm túc, đúng quy định, khắc phục được bệnh “thành tích” trong đánh giá, xếp loại.

Đẩy mạnh các giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Chi bộ là gốc rễ của Đảng”, “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do mọi đảng viên đều tốt”. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đảng viên là mối quan tâm hàng đầu của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối.

Công tác phát triển đảng viên được chú trọng nhiều hơn đến việc xem xét vấn đề chính trị hiện nay, đó là động cơ phấn đấu, tinh thần trách nhiệm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, phẩm chất đạo đức lối sống và thái độ, mối quan hệ với nhân dân nơi cư trú. Chỉ đạo các tổ chức đảng thực hiện nghiêm công tác tạo nguồn, thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng ưu tú phấn đấu trở thành đảng viên.

Chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; nắm bắt tình hình tư tưởng và định hướng thông tin, dư luận cho cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Thực hiện đồng bộ các giải pháp từ quản lý hồ sơ đến các hoạt động của đảng viên, trong đó tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp ủy nơi công tác và nơi cư trú của đảng viên để phối hợp tốt trong công tác quản lý và giáo dục đảng viên; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, vi phạm ngay từ lúc mới nảy sinh.

Để nâng cao trách nhiệm, chất lượng tự phê bình và phê bình của đảng viên, trên cơ sở quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng sinh hoạt chi bộ thường kỳ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã cụ thể hóa, quy định tỷ lệ đảng viên tham gia phát biểu ý kiến trong một buổi sinh hoạt và tỷ lệ tham gia ý kiến phát biểu của mỗi đảng viên trên 12 kỳ sinh hoạt trong năm. Thực hiện quy định này, việc tham gia phát biểu ý kiến trong các buổi sinh hoạt chi bộ đã sôi nổi hơn, đa dạng hơn; bước đầu đã khắc phục tình trạng ít đảng viên tham gia ý kiến và ý kiến tham gia tập trung thường xuyên ở một số đảng viên, chủ yếu là đảng viên lãnh đạo.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, nhất là kiểm tra đảng viên chấp hành, các chi bộ, đảng bộ cơ sở đã chủ động chỉ đạo, lựa chọn nội dung, xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát với các nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tế. Từ đó kịp thời chỉ đạo khắc phục tồn tại, hạn chế, giải quyết dứt điểm những vấn đề mới phát sinh ngay từ cơ sở, góp phần hạn chế khiếu nại, tố cáo, hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật... 

Có thể khẳng định, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng là vấn đề có tính quy luật, là tất yếu khách quan trong công tác xây dựng Đảng. Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Quảng Nam tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ cơ sở tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhóm giải pháp trên để nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ VIII, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020.

 

 

ĐẢNG UỶ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI

Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Quảng Ngãi            

lãnh đạo công tác cải cách hành chính trong Đảng bộ Khối

-----

 

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Ngãi có 75 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, trong đó có 36 đảng ủy cơ sở và 39 chi bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 4.063 đồng chí.

Trong những năm qua, công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính đã được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quan tâm chỉ đạo, tập trung đẩy mạnh thực hiện. Ngày 05/12/2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi khóa XIX đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU (Nghị quyết 05), xác định mục tiêu về cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh là Xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại; tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Xây dựng chính quyền liêm khiết, kiến tạo, hành động, phục vụ tổ chức, công dân, tạo môi trường thuận lợi để huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Để cụ thể hóa thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 05, Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã lãnh đạo cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc chỉ đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động thực hiện đồng bộ 6 nội dung: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách chế độ công vụ, công chức; đổi mới cơ chế quản lý tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

1. Nhận thức của tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về vị trí, tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được nâng lên một bước.

2. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kịp thời xây dựng cơ chế, chính sách, giúp tỉnh chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ cải cách thủ tục hành chính gắn với việc tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế "Một cửa, một cửa liên thông" nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục rườm rà, công khai, minh bạch, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư và người dân. Kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, loại bỏ các văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn, nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp.

3. Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh đi vào hoạt động từ tháng 4/2018, với gần 1.400 thủ tục của 16 sở, ban, ngành thuộc Khối. Các thủ tục hành chính đưa vào Trung tâm đều được quy trình hóa theo tiêu chuẩn ISO 900: 2015; 100% hồ sơ, thủ tục hành chính được giám sát chặt chẽ từ khâu tiếp nhận, xử lý đến hoàn trả kết quả; 100% hồ sơ, thủ tục hành chính được số hóa xử lý trên môi trường mạng.

4. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong Khối luôn thực hiện các chuẩn mực theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, nội quy, quy chế làm việc và văn hóa công sở, xây dựng cơ quan, đơn vị kiểu mẫu về cải cách hành chính. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức có bước chuyển biến tích cực.

5. Tổ chức bộ máy hành chính thuộc Khối được củng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả (thực hiện Kế hoạch số 125-KH/TU, số 126-KH/TU ngày 05/4/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII); cơ chế quản lý tài chính công từng bước được đổi mới; công nghệ thông tin được ứng dụng ngày càng rộng rãi; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc giải quyết thủ tục hành chính được tăng cường; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đã góp phần rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế nhất định: Một số thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, phức tạp, chiếm nhiều thời gian; việc giải quyết thủ tục hành chính của một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đúng thời gian quy định. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành của các cơ quan hành chính chưa triệt để; việc áp dụng công nghệ thông tin để công khai và giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn chậm, hiệu quả chưa cao; dịch vụ công trực tuyến chỉ đạt ở mức độ 2, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 còn ít, tổ chức và công dân tham gia sử dụng chưa nhiều; tỷ lệ đăng ký doanh nghiệp qua mạng còn thấp, triển khai cấp giấy chứng nhận đầu tư qua mạng còn hạn chế.

Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng, Chính phủ đặt ra quyết tâm xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hoạt động quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng lòng tin trong nhân dân, trong hệ thống chính trị, thì việc cấp ủy lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động cơ quan, đơn vị thực hiện tốt công tác cải cách hành chính là rất quan trọng và cần thiết, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Để làm được điều đó, trong thời gian đến Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối tiếp tục chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc thực hiện đồng bộ 6 nội dung công tác cải cách hành chính, trong đó tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

 Một là, các cấp ủy đảng trong Khối coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu, người đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, coi kết quả công tác cải cách hành chính, là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, nhận xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức hằng năm.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước và kết quả công tác cải cách hành chính của các đơn vị trong Khối, của tỉnh, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ; về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp,...nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính.

 Ba là, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, quy chế bảo đảm phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Nâng cao chất lượng tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ngành nhằm đảm bảo hiệu lực, chất lượng, tính khả thi cao của văn bản; tham mưu ban hành cơ chế, chính sách chính sách khuyến khích cán bộ, công chức thôi làm nhiệm vụ, thôi việc để giải quyết số cán bộ, công chức, viên chức dôi dư sau khi sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và hợp nhất, sáp nhập các đơn vị hành chính.

Bốn là, tiếp tục rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục hành chính; tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đối với những lĩnh vực bức thiết liên quan đến cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

Năm là, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm phục vụ hành chính công; thực hiện đầy đủ việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực tại trụ sở cơ quan hành chính, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; xây dựng và công khai quy trình xử lý, giải quyết công việc hành chính, thủ tục hành chính để tổ chức, công dân, doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát. 

Sáu là, triển khai thực hiện việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế theo Kế hoạch số 125-KH/TU, số 126-KH/TU ngày 05/4/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Bảy là, tiếp tục thực hiện một số biện pháp chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính theo Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND ngày 07/5/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi; Chỉ thị số 31-CT/TU ngày 13/6/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 10/11/2016 của UBND tỉnh về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cải cách hành chính nhằm ngăn chặn, phát hiện, xử lý kịp thời tổ chức đảng, đảng viên, cơ quan, đơn vị, công chức, viên chức có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu gây phiền hà đối với tổ chức và công dân.

Tóm lại, cải cách hành chính là để xây dựng nền hành chính dân chủ, từng bước hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, có ý thức tôn trọng Nhân dân, có tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp cao để đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, chăm lo đời sống của Nhân dân ngày càng tốt hơn. Vì vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc và mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong toàn Đảng bộ Khối thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Quảng Ngãi.

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Bình Định

-----

  Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Bình Định hiện có 76 tổ chức cơ sở đảng (trong đó có 42 đảng bộ, 34 chi bộ), cấp ủy các chi, đảng bộ cơ sở 450 đồng chí; 02 đảng bộ bộ phận, 328 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở với tổng số 4.542 đảng viên và hơn 5.000 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Tổ chức Ðoàn Thanh niên Khối các cơ quan tỉnh với 56 cơ sở Đoàn trực thuộc và 2.564 đoàn viên.

Xác định công tác học tập quán triệt, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân; tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, là tiền đề vững chắc cho sự thành công trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị mà nghị quyết đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy chỉ thị, nghị quyết của Đảng nếu không đến được cán bộ, đảng viên và nhân dân, không thực sự thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và nhân dân thì chỉ thị, nghị quyết đó không thể đi vào cuộc sống.

Trong thời gian qua, sau khi có chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Bình Định đã sao lục các chỉ thị, nghị quyết và các hướng dẫn thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng gửi các cấp ủy chi, đảng bộ cơ sở triển khai quán triệt và thực hiện; xây dựng kế hoạch và tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Khối kịp thời, nghiêm túc, chất lượng, đáp ứng yêu cầu và đã tập trung làm rõ những quan điểm, nội dung cơ bản, điểm mới của nghị quyết, liên hệ sát với thực tiễn. Từ năm 2016 cho đến nay, Đảng ủy Khối đã tổ chức 20 hội nghị triển khai nghiên cứu, học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho 5.644 lượt cán bộ chủ chốt của Đảng ủy Khối và 39 hội nghị Thông tin và chuyên đề hàng tháng cho 18.199 lượt các đồng chí báo cáo viên, cấp ủy viên cơ sở; số lượng đảng viên tham dự hội nghị đạt trên 98% và trên 97% quần chúng. Sau khi học tập các chỉ thị, nghị quyết, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã cụ thể hóa bằng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện từng nghị quyết phù hợp với tình hình thực tế của Đảng bộ Khối.

Để tổ chức được hội nghị quán triệt các chỉ thị, nghị quyết nêu trên có kết quả tốt, BTV Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Bình Định đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:

Một là, ngay từ đầu nhiệm kỳ Ban Thường vụ Đảng ủy Khối xây dựng Đề án “Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Bình Định, giai đoạn 2016-2020”, trong đó xác định việc  chỉ đạo tổ chức học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng là khâu tiền đề quan trọng để cho đảng viên, quần chúng có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và có trách nhiệm thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng một cách tốt nhất. Cho nên, bí thư cấp ủy là người chịu trách nhiệm cao nhất, trực tiếp phụ trách, chỉ đạo công tác học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng của đảng bộ, chi bộ; phối hợp với các đoàn thể nắm bắt và định hướng kịp thời những vấn đề tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và người lao động; chủ động nâng cao ý thức cảnh giác và ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị.

Hai là, thành lập đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên, giảng viên kiêm chức của Đảng ủy Khối trên từng lĩnh vực (công tác tư tưởng, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra; lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghiệp, nông nghiệp, y tế,...). Với yêu cầu đội ngũ báo cáo viên phải có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất và năng lực trong công tác tuyên truyền miệng để tham gia báo cáo trực tiếp các chuyên đề nghị quyết có liên quan trên lĩnh vực phụ trách.

Ba là, đổi mới phương pháp học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng theo hướng vừa đa dạng hóa, cụ thể hóa, vừa nghiêm túc, khoa học và hiệu quả; gắn học tập với thảo luận, viết thu hoạch; coi học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, quần chúng và tinh thần, thái độ học tập, quán triệt nghị quyết là một tiêu chí đánh giá ý thức trách nhiệm, thái độ của cán bộ, đảng viên đối với tổ chức đảng.

Đối với cán bộ chủ chốt cần đi sâu phân tích những nội dung, mục tiêu, quan điểm và những điểm mới của nghị quyết gắn với liên hệ thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đề cao phương pháp tự nghiên cứu, tăng cường trao đổi, thảo luận và quán triệt những vấn đề có liên quan đến quan điểm, lý luận gắn với thực tiễn mà nghị quyết đặt ra. Đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tập trung vào những vấn đề hết sức cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, chú trọng việc liên hệ nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên nhằm tạo sự thông suốt về nhận thức, tư tưởng và chọn hình thức, phương pháp phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất để đảng viên, công chức, viên chức tham gia được nhiều nhất.

Thứ , sau mỗi đợt tổ chức học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, yêu cầu các cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy phải xây dựng kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết; kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết ở các cơ quan, đơn vị phải thực sự sát hợp, khả thi, cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và xác định lựa chọn những vấn đề bức xúc cần tập trung giải quyết, đồng thời có sự phân công trách nhiệm và quy định thời gian thực hiện cụ thể, tránh chung chung; chỉ đạo theo dõi việc viết bài thu hoạch cá nhân nhằm tránh việc sao chép hình thức hoặc đối phó; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết và viết bài thu hoạch cá nhân, kịp thời uốn nắn những sai trái, lệch lạc, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền về học tập, triển khai và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên trang thông tin điện tử và các chuyên trang, chuyên mục của cơ quan, đơn vị. Định kỳ tổ chức hội nghị giao ban cộng tác viên, báo cáo viên để nắm thông tin, cung cấp và định hướng thông tin; hàng năm tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo cho cấp ủy, báo cáo viên cơ sở; tổ chức hội thi báo cáo viên giỏi ... nhằm để cùng nhau học tập kinh nghiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG UỶ KHỐI  CÁC CƠ QUAN TỈNH KON TUM

Những vấn đề cần quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo

công tác đoàn thể của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Kon Tum

-----

 

Đảng bộ Khối các cơ quan Tỉnh Kon Tum được thành lập vào ngày 29/10/1991 và hoạt động theo Quy định số 293-QĐ/TW, ngày 23/3/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hiện nay, Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh hiện có 59 TCCSĐ trực thuộc[1], với 2.287 đảng viên. Ban Chấp hành Đảng bộ Khối khóa VI, nhiệm kỳ 2015- 2020 có 23 đồng chí; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy: 06 đồng chí, trong đó Thường trực Đảng ủy: 03 đồng chí; có 04 Ban tham mưu, giúp việc và Đoàn Khối, với tổng số biên chế được giao 15 người. Đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong toàn Đảng bộ Khối luôn có lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Kon Tum lãnh đạo 02 tổ chức đoàn thể đó là Công đoàn Viên chức tỉnh và Đoàn Khối. Công đoàn Viên chức tỉnh quản lý 69 Công đoàn cơ sở, với 2.871 đoàn viên công chức, viên chức, lao động; Đoàn khối quản lý 41 TCCS Đoàn cùng với 1.529 đoàn viên thanh niên. Các tổ chức đoàn thể trực thuộc đều là các cơ quan, đơn vị đầu ngành của tỉnh, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Vì vậy Ban Thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Kon Tum xác định hoạt động của tổ chức đoàn thể phải theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam và Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Trong những năm qua hoạt động của Công đoàn Viên chức tỉnh và Đoàn Khối nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã triển khai và thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác đề ra. Tổ chức các phong trào thi đua sôi nổi, sát tình hình thực tế, đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng của đại đa số đoàn viên, thanh niên, lao động hưởng ứng tham gia nhiệt tình và đã được các cấp, các ngành biểu dương, khen thưởng[2].

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế đó là: Chưa phát huy hết vai trò là lực lượng nòng cốt, xung kích và tiên phong của Đảng; phát động một số phong trào thi đua còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thiết thực; việc phát hiện và nêu gương điển hình tiêu biểu, xuất sắc trong đoàn viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn thanh niên để cấp ủy đảng biểu dương và nhân rộng mô hình còn hạn chế…

Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên là do trong quá trình hoạt động, tổ chức đoàn thể chưa chủ động tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, thiếu tự tin trong việc đề xuất, tham mưu thực hiện; nội dung hoạt động của đoàn thể chậm được đổi mới, thiếu trọng tâm…

 Xuất phát từ những yêu cầu thực tế như vậy để công tác đoàn thể của Đảng ủy Khối thực hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm vị trí của mình trong thời gian tới; Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh cần tập trung, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo một số nội dung cụ thể, như sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, ý thức giai cấp cho đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên, lao động trong các cơ quan, đơn vị, xem đây là nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu của công tác đoàn thể, nhằm nâng cao nhận thức cán bộ, đoàn viên, thanh niên, lao động về các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Hai là, Đảng ủy Khối tiếp tục quan tâm, lãnh đạo sâu sát hai tổ chức đoàn thể, đặc biệt là công tác cán bộ chuyên trách của Đoàn Khối và Công đoàn Viên chức tỉnh; lựa chọn và bố trí những cán bộ có uy tín, có năng lực, có phẩm chất đạo đức; chỉ đạo cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện đến các hoạt động của tổ chức đoàn thể; để đoàn viên, thanh niên coi tổ chức đoàn thể là nơi để rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; tăng cường công tác giác ngộ, bồi dưỡng, kết nạp đoàn viên ưu tú vào Đảng nhất là ưu tiên giới thiệu, bồi dưỡng những cán bộ trẻ năng nỗ, nhiệt tình trong các hoạt động phong trào.

Ba là, chỉ đạo cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc phối hợp với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có chính sách hoặc cơ chế bố trí, sắp xếp vị trí công tác phù hợp đối với các đồng chí tham gia Ban Chấp hành hai tổ chức đoàn thể có năng lực, có uy tín, năng nổ, nhiệt tình, sáng tạo trong các hoạt động phong trào.

Bốn là: Tăng cường chỉ đạo Đoàn Khối và Công đoàn Viên chức tỉnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; phát động và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia; qua đó, kịp thời phát hiện những mô hình hay, cách làm hiệu quả giới thiệu cho cấp ủy biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến.

Năm là, Thường xuyên giám sát, kiểm tra, kịp thời phát hiện những thiếu sót để có sự chỉ đạo, định hướng trong quản lý và hoạt động của tổ chức đoàn thể; đồng thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của tổ chức đoàn thể, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH GIA LAI

Một số kinh nghiệm bước đầu trong công tác chính trị, tư tưởng    

của Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Gia Lai

-----

Đầu tháng 3/2019, Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Gia Lai (sau đây viết tắt là Đảng bộ Khối) được hợp nhất từ Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh theo Quyết định số 1300-QĐ/TU, ngày 27/2/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Hiện nay Đảng bộ Khối có 128 tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) trực thuộc, gồm 49 đảng bộ và 79 chi bộ cơ sở với 4.537 đảng viên; trong đó, có 71 TCCSĐ thuộc các loại hình cơ quan, đơn vị sự nghiệp và 57 TCCSĐ thuộc loại hình doanh nghiệp.

Thời gian qua, Đảng ủy Khối luôn xác định công tác chính trị tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

Thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng nghiên cứu, quán triệt, học tập và cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hầu hết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng có liên quan đến công tác lãnh đạo của Đảng ủy Khối đều được tổ chức quán triệt tập trung đến cán bộ, đảng viên do báo cáo viên của Đảng ủy Khối (hoặc mời báo cáo viên cấp trên) truyền đạt. Đối với các lớp tổ chức tại cơ sở, chú trọng quản lý chặt về nội dung, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm chắc số lượng, danh sách người học; định kỳ tổ chức kiểm tra, giám sát kết quả viết bài thu hoạch của đảng viên, việc xây dựng chương trình hành động của cấp ủy và kế hoạch cá nhân. Kết quả từ đầu nhiệm kỳ 2015 - 2020 đến nay luôn đạt trên 95% đảng viên và 90% quần chúng được nghiên cứu, quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; số còn lại do nhiều lý do vắng mặt đều được các cấp ủy TCCSĐ cấp tài liệu và hướng dẫn học tập, quán triệt ngay sau đó.

Về triển khai, quán triệt, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, đặc biệt là Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ủy Khối luôn coi đây là “xương sống” của nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ Khối; vì vậy đã kịp thời chỉ đạo nghiêm túc việc tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện đến cán bộ, đảng viên và quần chúng; tập trung chỉ đạo sát sao việc triển khai các chuyên đề hàng năm một cách thiết thực, hiệu quả. Về cơ bản, đến nay đã tạo được một số chuyển biến mới trong cả nhận thức và hành động, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của từng TCCSĐ và toàn Đảng bộ Khối.

Công tác tuyên truyền luôn được chú trọng thực hiện tốt, trong đó nội dung tuyên truyền luôn được cập nhật theo sự chỉ đạo của cấp trên. Về hình thức tuyên truyền đã từng bước đổi mới theo hướng vừa bảo đảm nội dung, vừa phải phù hợp với tình hình cụ thể của cơ sở, như tổ chức các hội nghị chuyên đề, hội nghị báo cáo viên; thông qua sinh hoạt chi bộ, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể; tuyên truyền trên Trang thông tin điện tử của Đảng ủy Khối và các ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... Ngoài ra, hằng năm Đảng ủy Khối còn mời một số báo cáo viên Trung ương, chuyên gia về truyền đạt, quán triệt các chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và cập nhật kiến thức trên một số lĩnh vực khác do yêu cầu của tình hình thực tế ở cơ sở đặt ra.

Đã tập trung xây dựng, củng cố đội ngũ báo cáo viên Đảng ủy Khối đảm bảo số lượng và chất lượng; hướng dẫn cơ sở xây dựng lực lượng báo cáo viên (là cán bộ phụ trách công tác tuyên giáo, cấp ủy viên của đảng ủy cơ sở và các bí thư chi bộ). Thường xuyên chú trọng cung cấp thông tin thời sự về kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phổ biến, quán triệt, triển khai nhiệm vụ chính trị trọng tâm của tỉnh, của ngành, lĩnh vực; tạo sự thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong từng thời điểm cụ thể. Bên cạnh đó, các hội nghị báo cáo viên được tổ chức định kỳ 04 lần/năm và tổ chức bất thường khi cần thiết, qua đó góp phần tuyên truyền, hướng dẫn tuyên truyền, định hướng dư luận trong từng thời gian.

Về mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp Đảng, đảng viên mới, lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho đối tượng 4, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng, đoàn luôn được chú trọng đúng mức. Hàng năm, ngay từ cuối năm trước, Đảng ủy Khối chủ động thông báo để cấp ủy TCCSĐ đăng ký nhu cầu; xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện. Đã chú trọng chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng việc mở lớp, nhất là chú ý tính hiệu quả thực chất.

Trong công tác tuyên truyền, giáo dục, khi phân công báo cáo viên, luôn chú ý đến sở trường, lĩnh vực báo cáo viên có vốn kiến thức và kinh nghiệm chuyên sâu để đảm nhận từng chuyên đề cụ thể; đồng thời từng bước cố gắng truyền đạt theo hướng sát với từng đối tượng, từng loại hình TCCSĐ.

Đi liền với các nhiệm vụ trên, Đảng ủy Khối còn thường xuyên chú trọng bám sát vào định hướng của Tỉnh ủy, hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; chỉ đạo cấp ủy TCCSĐ thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong từng thời gian; trong đó, động viên cấp ủy TCCSĐ và đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở tăng cường gần gũi, sâu sát cán bộ, đảng viên và quần chúng; cầu thị, lắng nghe tâm tư, tình cảm; kịp thời tháo gỡ, uốn nắn những hành vi, biểu hiện lệch lạc đồng thời có biện pháp xử lý, ngăn chặn các sai phạm, góp phần giữ vững ổn định chính trị ngay tại cơ sở.

Tuy đạt được một số kết quả nêu trên, nhưng nhìn chung, công tác chính trị, tư tưởng ở Đảng bộ Khối vẫn còn những khuyết điểm, hạn chế; trước hết là hình thức, phương pháp công tác tư tưởng vẫn còn đơn điệu, chưa phong phú, khả năng thuyết phục hiệu quả chưa cao. Nhận thức của một số cấp ủy cơ sở về công tác tư tưởng chưa đúng mức. Việc nắm bắt và định hướng dư luận, đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch có lúc còn bị động và lúng túng. Ý thức tự giác học tập, nâng cáo trình độ lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Vai trò nêu gương tự giác trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa được thể hiện rõ nét.

Trên cơ sở các kết quả đã đạt được và những khuyết điểm, yếu kém, Đảng ủy Khối rút ra một số kinh nghiệm trong công tác chính trị, tư tưởng như sau:

Một là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ Khối. Thường xuyên chú trọng giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống của Đảng, của dân tộc, của địa phương, truyền thống của cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp để nâng cao nhận thức, trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong tình hình mới. 

Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác học tập, quán triệt và tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện gắn với tình hình thực tiễn của Đảng bộ Khối; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, báo cáo và chú trọng sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về tác dụng, hiệu quả của nghị quyết trong thực tiễn hoạt động của Đảng bộ Khối nói chung và của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nói riêng.

Ba là, tổ chức thực hiện thật sự hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ . Phát huy thế chủ động tiến công trên mặt trận chính trị, tư tưởng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “biểu dương và phê bình”.

Bốn là, các cấp ủy cần chú trọng xây dựng, củng cố thường xuyên lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên đảm bảo số lượng, chất lượng. Tăng cường công tác kiểm tra, thăm dò, nắm bắt dư luận để thấu hiểu tình hình, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng trong Đảng bộ Khối; tổ chức đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, nhận thức chưa đúng, chưa đủ; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng. Đồng thời, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện công tác chính trị, tư tưởng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng; nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, làm cho tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên thực sự trong sạch vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.

Năm là, thường xuyên thông tin kịp thời, có định hướng nhận thức, tư tưởng, hành động rõ ràng những vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và thế giới đang đặt ra cho cán bộ, đảng viên hay nói cách khác chú trọng tính phù hợp với từng đối tượng. Phát huy mạnh mẽ dân chủ cơ sở, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và người lao động nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó kịp thời giúp đỡ, động viên. Đi đôi với công tác tuyên truyền, vận động cần chú trọng giải quyết thỏa đáng các quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, đảng viên và người lao động…

 

 

 

 

 

ĐẢNG UỶ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH ĐẮK LẮK

Công tác tổ chức, cán bộ của Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Đắk Lắk

-----

Công tác tổ chức và cán bộ luôn giữ vị trí, vai trò then chốt, đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, của đất nước, của Đảng ta. Chính vì lẽ đó, ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh về mọi mặt, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua mỗi kỳ Đại hội, quan điểm, tư tưởng đổi mới công tác tổ chức cán bộ được thể hiện rõ nét, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn. Trong mỗi nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận… đề cập đến công tác tổ chức và bộ máy cán bộ: Hội nghị Trung ương 3, khóa VII ra nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các hội nghị Trung ương Đại hội VIII, ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác tổ chức cán bộ... Hội nghị Trung ương 6, khóa IX ban hành Kết luận về việc tiếp tục thực hiện các Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII; Hội nghị Trung ương 3, Trung ương 7, khóa VIII về công tác tổ chức cán bộ.Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng xác định “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và mới nhất là Hội nghị Trung ương 7, Khóa 12 ban hành Nghị quyết số 26 ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Nhận thức được điều đó, trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết của Trung ương của Đảng; Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk; Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh luôn xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nên đã tập trung củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng theo từng loại hình, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới[3]. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Chỉ đạo, thực hiện công tác rà soát, bổ sung quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, nhiện kỳ 2020-2025[4] theo thẩm quyền và phân cấp quản lý cán bộ (theo quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy), bảo đảm đúng quy trình, quy định. Công tác đánh giá, nhận xét cán bộ được Ban Thường vụ Đảng ủy khối và cấp ủy các TCCS đảng duy trì theo định kỳ hằng năm trong việc thực hiện quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và giới thiệu nhân sự ứng cử, bầu cử đúng nguyên tắc, đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời.Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện nghiêm túc khi thẩm tra, xác minh, khai thác hồ sơ của cán bộ, đảng viên, quần chúng ưu tú để phục vụ cho công tác cán bộ và phát triển đảng viên[5].

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số bất cập, khó khăn trong triển khai và thực hiện về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng bộ khối đó là: Hiện nay Ban Thường vụ Tỉnh ủy chưa ban hành được Quy định về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh, nên trong quá trình phân cấp, quản lý cán bộ gặp khó khăn trong thực hiện, đặc biệt là trong quản lý đội ngũ cán bộ trưởng, phó trưởng phòng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; mặt khác theo Quy định 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị hiện nay việc kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với các trường hợp cán bộ được đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm với số lượng là rất lớn, trong khi đó biên chế của Đảng ủy Khối ít, cán bộ Ban Tổ chức của Đảng ủy Khối mỏng, nên có lúc chưa đáp ứng kịp với yêu cầu, nhất là đối với các trường hợp liên quan đến lịch sử chính trị, đòi hỏi phải tiến hành sưu tra, thẩm tra, xác minh mất thời gian khá nhiều; với đặc thù các cơ quan,sở, ban, ngành,đoàn thể của tỉnh thường xuyên biến động về cán bộ nên việc kiện toàn, củng cố cấp ủy cơ sở có mặt còn lúng túng, không đảm bảo quy trình.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời thực hiện tốt công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ủy khối tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung, nhiệm vụ sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho cấp ủy các cấp về vị trí, vai trò, trách nhiệm, tầm quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ, kịp thời củng cố, kiện toàn TCCS đảng phù hợp với từng loại hình tổ chức, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chất lượng sinh hoạt chi bộ; thực hiện đồng bộ, chặt chẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp ủy các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.

Hai là, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quy định về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Đảng bộ Khối các cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh, đồng thời kịp thời xây dựng Quy chế phối hợp với Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban Đảng của Tỉnh ủy tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị (sau khi được sát nhập).

Ba, thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá thực trạng về bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ; đồng thời, phát hiện những nội dung còn bất hợp lý, không phù hợp với thực tiễn trong quy định, quy chế về công tác cán bộ, cũng như những vấn đề mới nảy sinh liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ, để kịp thời khắc phục và đề xuất với cấp ủy có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Bốn , cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ; thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch về công tác cán bộ trong tất cả các khâu như: đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ… và không để xảy ra sai phạm, tiêu cực.

Năm, đề nghị Ban Tổ chức Trung ương tham mưu cho Ban Bí thư Trung ương đổi mới và bổ sung, hoàn thiện (Quy định số 293-QĐ/TW, ngày 23/03/2010 của Ban Bí thư trung ương, theo đó có hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương trong khi thực hiện Quy định của Ban Bí thư).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN VÀ DOANH NGHIỆP TỈNH ĐĂK NÔNG

Thực trạng và giải pháp chỉ đạo triển khai thực hiện công tác   

      dân vận trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của tỉnh

-----

Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông đượcthành lập theo Quyết định số 1202-QĐ/TU, ngày 20/3/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông, trên cơ sở hợp nhất 02 Đảng bộ Khối (Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh) và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/2019. Hiện nay, Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông có 79 tổ chức cơ sở trực thuộc, với 3.156 đảng viên đang sinh hoạt tại các chi bộ, đảng bộ trong các cơ quan đảng, đoàn thể; cơ quan quản lý nhà nước; các đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức hội đặc thù, hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Nông; với 7.623 cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động.

Các tổ chức đoàn thể trong Khối, gồm: Công đoàn viên chứctỉnh có 52 công đoàn cơ sở với gần 2.700 đoàn viên và 26 công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh với 4.923 đoàn viên. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khối có 58 tổ chức cơ sở đoàn (19 đoàn cơ sở, 39 chi đoàn cơ sở) với 3.420 đoàn viên; Hội CCB Khối hiện có 22 tổ chức hội cơ sở, với 203 hội viên.

 Đảng bộ Khối có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo các TCCS đảng trong Khối thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể vững mạnh; kiểm tra, giám sát các TCCS đảng, đảng viên chấp hành cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy về các chủ trương, chính sách; các biện pháp, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị.

Xác định công tác dân vận là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng. Thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã xây dựng chương trình hành động, kế hoạch tổ chức học tập, nghiên cứu và quán triệt đến 100% cán bộ chủ chốt của Đảng ủy Khối và triển khai đến 79/79 TCCS đảng trong Khối tổ chức thực hiện. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác dân vận, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong tình hình mới”; Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị; Kế luận số 43-KL/TW, ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư; Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/01/2015 của Chính phủ về ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở trong hoạt động của cơ quan, Nghị định số 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện quy chế dân chủ tại doanh nghiệp; Thông tư số 01/2016/TT-BNV của Bộ Nội vụ; Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và đổi mới, công tác dân vận trong các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới; Chương trình hành động số 06-CTr/TU, ngày 04/4/2016 của Tỉnh ủy về thực hiện kết luận số 120-KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả, xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”;Kế hoạch số 102-KH/TU, ngày 13/3/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Kết luận số 43-KL/TW, ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 06-NQ/ĐUK, ngày 18/10/2012 của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh “Về đẩy mạnh việc lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp”; Kế hoạch 10-KH/ĐUK, ngày 06/5/2016 của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…

Từ đó, cấp ủy các TCCS đảng thường xuyên quan tâm lãnh đạo thực hiện công tác vận động cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động trong cơ quan nhà nước và doanh nghiệpthực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; xây dựng cơ quan văn hóa, các tổ chức đoàn thể vững mạnh; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, doanh nghiệp... góp phần phòng chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “về đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2015 của Bộ Chính trị về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chuyên đề hàng năm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có nhiều đổi mới; chú trọng định hướng tư tưởng, nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, chủ động đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc, kích động, lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền của các thế lực thù địch. Thực hiện tốt công tác dân vận gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh;tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện tốt “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền...” góp phần giữ vững và phát huy Khối đại đoàn kết toàn dân.

Các cấp ủy đảng đã tích cực lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể kịp thời triển khai thực hiện tốt công tác hỗ trợ nhân dân lao động, sảnxuất; tích cực giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai, minh bạch, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp đến quan hệ công việc; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp vào sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Phát động và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xã hội từ thiện... thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng công nhân, lao động hưởng ứng. Kết quả trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã lãnh đạo, vận động các đoàn thể và các doanh nghiệp trong khối thực hiện tốt công tác xã hội từ thiện, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo; xây dựng 60 nhà tình nghĩa, tặng 300 xuất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; xây dựng 02 trạm y tế xã; vận động 70 tấn xi măng làm 02km đường giao thông nông thôn; 08km đèn điện chiếu sáng đường quê... với tổng số tiền trị giá hơn 33 tỉ đồng. Phối hợp tổ chức khám bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, hiến máu tình nguyện; hỗ trợ quà tết Nguyên đán với số tiền hơn 9 tỉ đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số; phụng dưỡng 9 mẹ Việt Nam Anh hùng; tổ chức thăm hỏi gia đình chính sách nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh Liệt sỹ, kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Đắk Nông... góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Qua thực hiện các phong trào đã kịp thời cổ vũ, biểu dương, khen thưởng 30 mô hình, điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực. Tổ chức sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị; đề nghị Tỉnh ủy tuyên dương 04 tập thể, 08 cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nhiều tập thể, cá nhân được các cấp, các ngành tặng Bằng khen, giấy khen hoàn thành xuất xắc nhiệm vụ.

Qua lãnh đạo, triển khai thực hiện cho thấy, công tác dân vận tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã có bước chuyển biến rõ rệt, tập trung cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, cải cách thủ tục hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, tăng cường tiếp xúc đối thoại với nhân dân; tác phong của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và công nhân, lao động có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Tuy nhiên,Việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận đôi lúc còn chậm, chưa được sâu rộng; số lượng triển khai nhiều nhưng chất lượng còn hạn chế; việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết ở một số nơi chưa cụ thể, chưa sát với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật sự quyết liệt, chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện. Việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện công tác dân vận của một số cơ quan nhà nước hiệu quả chưa cao. Thái độ phục vụ nhân dân của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa tốt còn gây phiền hà, sách nhiễu, mức độ hài lòng chậm được nâng lên...

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở một số nơi còn hình thức, chưa triển khai đầy đủ những việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Công tác xây dựng chính quyền, đoàn thể vững mạnh còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Công tác tham mưu cho cấp ủy đảng về công tác vận động quần chúng, nhất là việc nắm tình hình cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động để sớm phát hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đôi lúc chưa kịp thời, có việc chưa sâu sát, có nơi còn biểu hiện mất dân chủ...

Nguyên nhân là do Một số cấp ủy, chính quyền và lãnh đạo các đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận trong tình hình hiện nay, nên việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chưa hiệu quả. Lãnh đạo cơ quan và các đoàn thể chưa thật sự đổi mới phương pháp tuyên truyền chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động, đoàn viên, hội viên. Chưa chủ động tham mưu giúp cấp ủy kiểm tra, giám sát, sơ kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện. Trình độ, năng lực của một số cán bộ làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở có mặt chưa ngang tầm so với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Từ những kết quả đạt được và tồn tại hạn chế nêu trên, Đảng ủy Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, lãnh đạo cơ quan, doanh nghiệp và các đoàn thể về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận; tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng về công tác dân vận và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo Kết luận số 43-KL/TW ngày 7/1/2019 của Ban Bí thư; Kết luận số 114-KL/TW ngày 14/7/2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan Nhà nước các cấp...

Thứ hai, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cơ chế, chính sách của Trung ương, của Tỉnh đến quần chúng, công nhân, lao động; phát huy hiệu quả vai trò tham gia của chính quyền, đoàn thể và quần chúng công nhân, lao động trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt quan điểm công tác dân vận “Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt”; thực hiện phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn; phấn đấu nâng cao chỉ số hài lòng của nhân dân đối với các cơ quan hành chính Nhà nước.

Thứ ba, tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; công khai, minh bạch hoạt động quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; thực hiện nghiêm túc Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/2/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân theo Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI).Tăng cườnglãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và các đoàn thể đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tổ chức các hoạt động xã hội - từ thiện trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên,công nhân lao động, trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Thứ tư, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy các TCCS đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quy định số 124-QĐi/TW, ngày 2/2/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị theo Quyết định 290-QĐ/TW, ngày 25/2/2010 của Bộ Chính trị (khóa X); phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của chính quyền và các đoàn thể, hội quần chúng theo hướng trọng tâm, thực chất, hiệu quả. Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức đảng yếu kém, phát triển tổ chức đoàn, hội và đoàn viên, hội viên trong các cơ quan, doanh nghiệp.

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP TỈNH PHÚ YÊN

Giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ

-----

Đảng bộ Khối cơ quan, doanh nghiệp tỉnh được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 03/6/2019 (theo Đề án số 04-ĐA/TU, ngày 21/5/2019 và Quyết định số 4901-QĐ/TU, ngày 24/5/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sáp nhập Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh). Hiện nay, Đảng bộ Khối cơ quan, doanh nghiệp tỉnh có 81 tổ chức cơ sở đảng (45 đảng bộ cơ sở, với 267 chi bộ trực thuộc; 36 chi bộ cơ sở) với 4.345 đảng viên; các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) trực thuộc Đảng ủy Khối hoạt động ở nhiều loại hình khác nhau (08 TCCSĐ loại hình đơn vị sự nghiệp, 57 TCCSĐ loại hình cơ quan hành chính và 16 TCCSĐ loại hình doanh nghiệp).

Chi bộ là tế bào của Đảng, là nơi trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng đến với quần chúng, nhằm tuyên truyền, vận động, tập hợp, giáo dục, thuyết phục quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “chi bộ là gốc rễ của Đảng”, “là đồn luỹ chiến đấu của Đảng ở trong quần chúng”, “là cầu nối giữa Đảng và quần chúng”, “chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh”; do đó, Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy. Thực tiễn đã chứng minh, những chi bộ trong sạch vững mạnh là những chi bộ duy trì tốt chế độ sinh hoạt; nội dung sinh hoạt phong phú, thiết thực; hình thức sinh hoạt đa dạng; phương pháp, cách thức tiến hành các buổi sinh hoạt phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo đúng nguyên tắc, quy định của Đảng

Nhận thức rõ điều đó, Đảng ủy Khối bám sát các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy duy trì thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt chi bộ, đề ra nhiều giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; quan tâm bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, uy tín cho đội ngũ chi ủy viên và bí thư chi bộ; thành lập các Tổ công tác của Ban Thường vụ dự sinh hoạt chi bộ ở cơ sở… để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; đồng thời thường xuyên chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở cơ sở. Qua đó, từng bước nâng cao nhận thức của cấp ủy và đảng viên về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và chi bộ; chất lượng sinh hoạt của các chi bộ trong toàn Đảng bộ Khối những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực và nâng lên rõ rệt; nền nếp, chế độ, quy trình sinh hoạt cấp ủy, chi bộ được thực hiện theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương; nội dung các buổi sinh hoạt chi bộ đã có nhiều đổi mới, cơ bản khắc phục được tính hình thức, đơn điệu, đồng thời đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng; thực hiện tốt việc gắn nội dung tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề ngày càng được chú trọng. 

Tuy nhiên, qua thực tế ở cơ sở cũng cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, như:

- Một số cấp ủy, chi bộ duy trì nền nếp sinh hoạt đảng chưa đều, còn lúng túng trong việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, điều hành, hiệu quả hoạt động của một số cấp ủy, chi bộ còn thấp; công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, chưa kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những vụ việc tiêu cực, tham nhũng và xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng.

- Một số cấp ủy chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ chưa bám sát hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, nội dung sinh hoạt còn mang tính hình thức; tập trung nhiều cho công tác chuyên môn, chưa quan tâm nhiều đến công tác xây dựng Đảng. Tổ chức sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề còn lúng túng, nội dung sinh hoạt chưa đa dạng, phong phú.

- Một số cấp ủy và chi bộ tính giáo dục, tính chiến đấu, tinh thần phê bình và tự phê bình còn yếu; công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao có mặt còn hạn chế, chưa đạt hiệu quả; cấp ủy, chi bộ chưa kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chưa thể hiện tốt vai trò là nơi lãnh đạo, giáo dục quản lý, giám sát và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nguyên nhân chủ yếu của những khuyết điểm, hạn chế trên là do: một số cấp ủy, chi bộ và cán bộ đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; chưa coi trọng và chấp hành nghiêm nề nếp sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ; chưa thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; chưa lắng nghe ý kiến của đảng viên và quần chúng; chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cấp ủy, chi bộ. Việc tổ chức sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề trong chi bộ chưa thường xuyên, chất lượng chưa cao; năng lực vận dụng, cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên về sinh hoạt chi bộ chưa tốt; việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng chưa được chú trọng; một số đồng chí bí thư cấp ủy, cấp ủy viên chưa dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng đảng, nặng về công tác chuyên môn; chưa phát huy được sức mạnh của tập thể để đề ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; một số cấp ủy chi bộ thực hiện nền nếp sinh hoạt chưa nghiêm, biên bản ghi nội dung sinh hoạt, các ý kiến tham gia thảo luận của đảng viên chưa đầy đủ. Việc ban hành nghị quyết sau khi sinh hoạt chi bộ thường kỳ ở một số chi bộ chưa thực hiện thường xuyên, chưa lựa chọn những vấn đề chủ yếu, trọng tâm, những vướng mắc cần tập trung giải quyết để đưa ra chi bộ thảo luận và ban hành nghị quyết. Việc phân công nhiệm vụ cho cấp ủy viên, đảng viên chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, đảng viên…Công tác kiểm tra, giám sát triển khai, thực hiện chưa chặt chẽ, còn hình thức,  nội dung kiểm tra, giám sát chưa sát với yêu cầu, chưa cụ thể…Một số cấp ủy, chi bộ ban hành quy chế làm việc chưa bám sát chức năng, nhiệm vụ của chi, đảng bộ.

Tiếp tục thực hiện tốt việc "nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 12- HD/BTCTW, ngày 06/7/2018 của Ban Tổ chức Trung ương Một số vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ  và Chỉ thị số 08-CT/TU, ngày 31/3/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bảo đảm cho sinh hoạt của chi bộ đạt được tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ như sau:

Một là, thường xuyên quán triệt Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW, ngày 06/7/2018 của Ban Tổ chức Trung ương nhằm nâng cao nhận thức của đảng viên về mục đích, yêu cầu, nội dung và các bước tiến hành sinh hoạt chi bộ, nhất là đội ngũ cấp ủy viên và bí thư chi bộ. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên, kết hợp chặt chẽ giữa công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị. 

  Hai là, chăm lo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cấp ủy viên và bí thư chi bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chú trọng kiện toàn đội ngũ cấp ủy có đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Xây dựng đội ngũ cấp ủy viên có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác, nhiệt tình, trách nhiệm, nhất là đồng chí Bí thư chi bộ phải có phẩm chất, năng lực, uy tín, nhiệt tình trong công tác xây dựng Đảng. Làm tốt công tác bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ công tác Đảng, xây dựng kế hoạch, đào tạo, cử cấp ủy viên đi dự các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ công tác Đảng khi Đảng ủy Khối tổ chức.

Ba là, lãnh đạo các cấp ủy cơ sở, chi bộ tổ chức thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt đảng theo Điều lệ Đảng; phát huy sự đoàn kết, thống nhất trong sinh hoạt Đảng; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt chi bộ nhất là việc thảo luận, quyết định những vấn đề thuộc chức năng nhiệm vụ của chi bộ và trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của đảng viên, tạo được không khí cởi mở chân thành để mọi đảng viên bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng của mình; nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, bảo vệ những đảng viên thẳng thắn đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất và tình thương yêu đồng chí trong Đảng. Đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp phải thực sự gương mẫu trong sinh hoạt chi bộ để mọi người noi theo.

  Bốn là, trước khi sinh hoạt chi bộ, chi uỷ, trước hết là bí thư chi bộ phải chuẩn bị kỹ trình tự, nội dung theo quy định, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; sau mỗi buổi sinh hoạt chi bộ đều phải có nghị quyết để đảng viên thực hiện nghiêm túc; thông qua sinh hoạt chi bộ để đảng viên tự rèn luyện mình.

 Nội dung sinh hoạt chi bộ phải thực hiện đúng theo trình tự của Hướng dẫn 12- HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu. Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, đấu tranh, ngăn chặn những biểu "hiện tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng. Trong sinh hoạt chi bộ phải kịp thời phổ biến quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên, những chỉ thị, nghị quyết cần phổ biến đến chi bộ, thông tin tình hình thời sự trong và ngoài nước cho đảng viên; tập trung thảo luận sâu những nội dung chính, cấp bách và giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của chi bộ, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đảng viên và quần chúng.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của các cấp ủy cấp trên trực tiếp trong việc sinh hoạt chi bộ đối với cấp dưới; thành lập tổ công tác dự sinh hoạt chi bộ, đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm của các đồng chí ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ cấp trên được phân công phụ trách, qua đó kịp thời phát huy ưu điểm, đồng thời khắc phục những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong sinh hoạt chi bộ.                      

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH KHÁNH HÒA

Công tác tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên ở

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa

------

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa hiện có 68 tổ chức cơ sở đảng, gồm 30 đảng bộ cơ sở, 38 chi bộ cơ sở, 222 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở và 26 chi bộ trực thuộc 06 đảng bộ bộ phận, với hơn 3200 đảng viên. Có 41 tổ chức cơ sở đảng cơ cấu bí thư là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, sở ngành, đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tăng cường vai trò của các cấp ủy, chi bộ cơ sở.

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa với đặc thù bao gồm các tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan lãnh đạo, các sở, ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp của tỉnh với đội ngũ cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ chỉ đạo, tham mưu, tổ chức thực hiện với trình độ về chính trị, chuyên môn, pháp luật cùng năng lực thực tiễn ngày càng nâng cao, thể hiện tiềm lực, tiềm năng trí tuệ có tác động lan tỏa trong toàn bộ hoạt động của tỉnh.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa luôn hướng về cơ sở, không ngừng nâng cao phương thức lãnh đạo, chỉ đạo; bám sát các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy; chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo đối với những tổ chức cơ sở đảng có tính đặc thù, khó khăn, vướng mắc…

Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa luôn bám sát vào chương trình công tác, quy chế làm việc; phát huy trí tuệ tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, những vấn đề quan trọng đều được bàn bạc và lấy ý kiến tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành trước khi quyết định đã tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành.

Ban Thường vụ Đảng ủy Khối luôn chú trọng đến công tác củng cố, kiện toàn cấp ủy và tổ chức cơ sở đảng nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là vai trò của đồng chí bí thư cấp ủy; đồng thời khắc phục một số biểu hiện buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng; chỉ đạo các cấp ủy, chi bộ cơ sở rà soát, kiện toàn mô hình tổ chức của các chi bộ cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị; khắc phục dần tình trạng có những chi bộ quá đông đảng viên hoặc không đồng bộ, thống nhất với tổ chức trong cơ quan, đơn vị; tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức sinh hoạt chi bộ và công tác quản lý, theo dõi, kiểm tra, phân công công tác cho đảng viên.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, trong đó chỉ định bổ sung cấp ủy viên 34 đồng chí; chuẩn y chức danh bí thư 15 đồng chí; chuẩn y chức danh phó bí thư 16 đồng chí; chuẩn y ủy viên ban thường vụ 05 đồng chí; nâng cấp 04 chi bộ thành đảng bộ cơ sở; sáp nhập 03 chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Khối về đảng ủy cơ sở; chuyển giao 01 tổ chức đảng về Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.

Trong công tác cán bộ, Đảng ủy Khối được Tỉnh ủy giao trách nhiệm tham gia ý kiến về công tác cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và thẩm quyền quản lý Đảng bộ Khối. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối thường xuyên tham gia ý kiến theo đề nghị của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, góp phần tham mưu cho Tỉnh ủy trong việc đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo sở, ngành; tham gia ý kiến cho các cơ quan, đơn vị, sở ngành về đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ từ phó phòng trở lên.

Công tác đánh giá chất lượng và khen thưởng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, thông qua việc xây dựng "nội dung chủ yếu để đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng". Riêng đối với các cơ sở đảng đánh giá chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ sẽ được Đảng ủy Khối khoanh vùng, xác định rõ nguyên nhân, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giúp cơ sở đảng sớm khắc phục hạn chế, khuyết điểm để vươn lên. Vì vậy, nhiều năm nay số cơ sở đảng được công nhận trong sạch vững mạnh ở Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa đều tăng, số cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ do có hạn chế, khuyết điểm giảm dần, không có cơ sở đảng yếu kém.

Đảng ủy Khối đã chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư, Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW, Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Hiện nay, hầu hết các chi bộ trong toàn Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa đã duy trì tốt chế độ sinh hoạt định kỳ hằng tháng; nội dung sinh hoạt phong phú; hình thức thông tin được quan tâm đổi mới. Từ đó, nâng cao nhận thức và mở rộng sự hiểu biết cho đảng viên tăng tính hấp dẫn, tránh sự đơn điệu, nhàm chán trong sinh hoạt chi bộ. Ngoài ra, để không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nâng cao chất lượng của đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư chi bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa đã có nhiều chủ trương chỉ đạo, giải pháp tích cực, như: tổ chức các lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức, lớp nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nghiệp vụ kỹ năng công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên, bí thư chi bộ.

Nhận thức sâu sắc công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và có tính cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng; những năm qua Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa chúng tôi luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác tạo nguồn phát triển đảng viên nhằm thực hiện có hiệu quả Đề án số 03-ĐA/TU, ngày 29/3/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa về “Tập trung xây dựng tổ chức đảng, phát triển Đảng viên ở thôn, tổ dân phố và các trường học, giai đoạn 2017-2020”.

Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên được Đảng ủy Khối triển khai thực hiện theo đúng phương châm, phương hướng kết nạp của Điều lệ Đảng và chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm đảm bảo phát triển đảng viên đạt yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Trên cơ sở đánh giá, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, các cấp ủy cơ sở đã xây dựng kế hoạch tạo nguồn; đồng thời chỉ đạo các đoàn thể quần chúng, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục quần chúng, từ đó lựa chọn đoàn viên ưu tú giới thiệu cho chi bộ xét, chọn quần chúng ưu tú vào danh sách Cảm tình Đảng của chi bộ để tiếp tục theo dõi, giúp đỡ; đồng thời đưa ra khỏi danh sách những quần chúng không đủ tiêu chuẩn.

Ban Thường vụ Đảng ủy Khối luôn bám sát các nội dung, chương trình các lớp nhận thức về Đảng theo yêu cầu của Trung ương, đồng thời gắn với thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Khối, những mô hình hay của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Đội ngũ báo cáo viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên cải tiến chất lượng truyền đạt cũng là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn kết nạp, do đó, chất lượng các lớp không ngừng được nâng lên.

Ngoài ra, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối luôn kịp thời nghiên cứu, xem xét kết nạp Đảng đối với quần chúng ưu tú là người có đạo, trường hợp vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ đảm bảo đúng các quy định của Đảng; công tác thẩm tra, xác minh được các cấp ủy cơ sở thực hiện theo đúng quy định; phối hợp ngành công an trong quá trình tra tìm hồ sơ, làm rõ hồ sơ có tính phức tạp, liên quan đến lịch sử chính trị và chính trị hiện nay. Các trường hợp kết nạp Đảng có liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nội bộ hiện nay đều được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối rà soát kỹ, đối chiếu với các quy định của Đảng, trên cơ sở thực hiện hướng dẫn của cấp trên và tiêu chuẩn phấn đấu của quần chúng vi phạm lịch sử chính trị, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy để kết nạp quần chúng ưu tú có nguyện vọng tha thiết đứng vào hàng ngũ của Đảng. Với những cố gắng và nỗ lực, nhiều năm qua số lượng và chất lượng quần chúng ưu tú được xem xét kết nạp vào Đảng của Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa không ngừng tăng lên, đến thời điểm này đã kết nạp 785 đồng chí, tỷ lệ nữ 431 đồng chí, độ tuổi đoàn thanh niên 364 đồng chí; đạt tỷ lệ 85,60% so với nhiệm kỳ.

Thông qua hoạt động thực tiễn, ngoài những mặt thuận lợi, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Khánh Hòa còn có những tâm tư nhất định, nhân Hội nghị này xin được nêu các đề xuất để các đồng chí tham khảo, chia sẻ và cùng phản ánh với Ban Tổ chức Trung ương quan tâm hơn nữa.

Một là: Trong thời gian qua, về mặt tổ chức cán bộ của Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, thành phố chưa thật sự được quan tâm đến biên chế, số lượng biên chế thiếu; tính chất công việc đòi hỏi ngày càng cao, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay. Vì vậy, đề nghị Trung ương nghiên cứu quan tâm, kiến nghị bổ sung biên chế Cơ quan Đảng ủy Khối tỉnh, thành phố.

Hai là: Theo Hướng dẫn của Ban Bí thư về thi hành Điều lệ Đảng thì cơ sở đảng có từ 200 đảng viên trở lên có thể bố trí cán bộ chuyên trách, nhưng thực tế cơ sở đảng trực thuộc Đảng ủy Khối không đủ số lượng theo quy định để có cán bộ chuyên trách làm công tác đảng. Do yêu cầu công việc một số cấp ủy cơ sở tha thiết có cán bộ chuyên trách công tác đảng nhưng vướng về quy định. Đề nghị Trung ương nghiên cứu có hướng mở để các Đảng ủy Khối tỉnh, thành phố tùy theo tình hình thực tế để xác định cán bộ chuyên trách công tác đảng ở cơ sở đảng.

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối các cơ quan thành phố Đà Nẵng             về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế                         theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW

------

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là nhà kiến tạo vĩ đại. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người tuyên bố: “…Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết và việc đầu tiên phải kiến thiết là xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, một nền hành chính phục vụ nhân dân”. Điều cần nói là, ngay từ khi bắt tay vào việc tạo dựng chính thể mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướng tới mô hình chính quyền tinh gọn, hiệu quả và việc chấn chỉnh biên chế đã được Người sớm đặt ra.

Kế thừa tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh và xác định tổ chức bộ máy và cán bộ là hai nội dung then chốt, đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, từ trước khi Trung ương ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW (khóa XII) về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, điều thuận lợi của Đà Nẵng là Thành ủy đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 04/01/2017 về “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và sắp xếp tổ chức, bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội thành phố”. Do đó, các sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố đã triển khai nhiều việc làm cụ thể để tiến hành sắp xếp, tinh gọn các tổ chức, bộ máy, nhất là tiến hành sắp xếp các tổ chức trực thuộc ngay từ bên trong - một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 18-NQ/TW.

Và sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII)  “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đến nay bộ máy hệ thống chính trị trên địa bàn TP Đà Nẵng đã bước đầu tinh gọn, hoạt động hiệu quả như: hợp nhất 03 Văn phòng: Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND và UBND thành 01 Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND và UBND TP; từ ngày 01/4/2019 các cơ quan tham mưu, giúp việc Thành ủy chuyển bộ phận kế toán, thủ quỹ, lái xe, bảo vệ, phục vụ về Văn phòng Thành ủy. Các cơ quan tham mưu, giúp việc Thành ủy cũng đã sắp xếp, giảm 08 phòng trực thuộc.

Đối với các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, từ năm 2016, UBND TP đã thực hiện sắp xếp các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố theo quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, qua đó đã sắp xếp 09 ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc các sở, ngành thành 06 ban quản lý dự án trực thuộc UBND thành phố gồm: 04 ban quản lý dự án chuyên ngành (Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng và phát triển đô thị, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn).

Đối với các đơn vị sự nghiệp y tế, Sở Y tế sáp nhập 6 đơn vị thuộc khối y tế dự phòng và y tế cộng đồng gồm: Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, Trung tâm Truyền thông và giáo dục sức khỏe và Trung tâm Đào tạo cán bộ y tế để thành lập Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố.

Đối với các đơn vị sự nghiệp văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao thống nhất với Sở Nội vụ sắp xếp, tinh gọn đầu mối, giảm 6 đơn vị, gồm: sáp nhập Trung tâm Tổ chức sự kiện và lễ hội thành phố và Trung tâm Phát hành phim chiếu bóng thành phố vào Trung tâm Văn hóa thành phố; sáp nhập Trung tâm Quản lý di sản văn hóa vào Bảo tàng Đà Nẵng; sáp nhập Trung tâm Thể dục-thể thao người lớn tuổi, Cung Thể thao Tiên Sơn vào Trung tâm Thể dục thể thao và đổi tên thành Trung tâm Tổ chức thi đấu thể dục thể thao. Tiến hành giải thể Trung tâm Quản lý quảng cáo.

Đối với các đơn vị sự nghiệp ngành Công thương, tiến hành hợp nhất Trung tâm Xúc tiến thương mại và Trung tâm Khuyến công thành Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại; đồng thời tách Trung tâm Hội chợ - triển lãm từ Công ty Quản lý các chợ để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.

Và các đơn vị sự nghiệp tiến hành cổ phần hóa trong giai đoạn 2017 - 2020: Viện Quy hoạch và xây dựng, Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới, Trường Trung cấp nghề giao thông công chính (Đảng bộ Sở Giao thông vận tải), Trung tâm Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và Trung tâm Vi mạch (Sở Thông tin & Truyền thông).

Từ những kết quả đó đã cho thấy rằng việc thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị là một chủ trương đúng đắn, kịp thời, nhưng lại khá nhạy cảm, liên quan đến con người, chính sách và tác động trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, công chức mà đặc biệt là đội ngũ đảng viên chịu sự sắp xếp của các đơn vị này đều đang sinh hoạt tại các chi, đảng bộ trực thuộc Đảng ủy Khối các cơ quan thành phố. Làm sao để làm tốt công tác chính trị tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể cán bộ, đảng viên và người lao động để tạo sự đồng thuận, thống nhất là vấn đề được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đặc biệt quan tâm, triển khai thực hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong công tác tuyên truyền Ban Thường vụ Đảng ủy yêu cầu các tổ chức cơ sở Đảng cần làm rõ tầm quan trọng, ý nghĩa và những tác động tích cực của việc thực hiện chủ trương sắp xếp các đơn vị, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, làm sao để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động thông suốt về nhận thức tư tưởng, khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, khách quan, xuất phát từ yêu cầu cấp bách của cuộc sống; thực trạng tồn tại, hạn chế của hệ thống chính trị.

Thứ hai, đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, trong việc phối hợp với chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu trong việc nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên trong việc rà soát, đánh giá, bố trí, sắp xếp lựa chọn những người có phẩm chất năng lực; giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách cho những người bị tác động do sắp xếp.

Thứ ba, chỉ đạo cấp ủy phối hợp với lãnh đạo cơ quan tổ chức các sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề để trưng cầu ý kiến, đóng góp, phân tích, đồng thời có điều kiện để giải thích, nói rõ những quan điểm, chủ trương của thành phố để tạo sự đồng tình, ủng hộ đối với những đơn vị chịu sự tác động của việc sắp xếp.

Và cuối cùng đó là động viên cán bộ, công chức, đặc biệt là đội ngũ đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, hy sinh một phần quyền lợi cá nhân vì lợi ích chung.

Qua những việc làm đó thì từ năm 2017 đến nay, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối thấy rằng tất cả các đơn vị trực thuộc Đảng bộ Khối đều rất nỗ lực, cán bộ, đảng viên đều nhận thức được chủ trương và thấy được quyền lợi của mình trong đó nên tình hình thành phố rất ổn định trong việc đổi mới, sắp xếp, đảng viên yên tâm công tác.

Tuy nhiên, việc tham gia thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW trong toàn Đảng bộ mới chỉ đạt được kết quả bước đầu, còn rất nhiều việc để Đảng ủy Khối các cơ quan phải làm để đạt được mục tiêu của thành phố đề ra, trong đó đặc biệt là công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Tại Hội nghị này Đảng ủy Khối các cơ quan thành phố mạnh dạn đưa ra một số giải pháp, các giải pháp này cũng chính là những bài học mà Đảng ủy Khối đã rút ra trong quá trình cùng thành phố thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW.

Một là, nắm vững các quan điểm chỉ đạo của Đảng về những vấn đề cơ bản mà Nghị quyết đề ra. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng cần tiếp tục tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế để tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng bộ giữa sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng với phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về mục đích, ý nghĩa các Nghị quyết số 18 và 19 của Trung ương, tạo thống nhất cao về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy phải quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, với quyết tâm chính trị cao, nhận thức đúng, tư tưởng thông, công khai, dân chủ, hợp tình, hợp lý, phù hợp tình hình đặc điểm của cơ quan, đơn vị mình.

Ba là, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong thực hiện mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. chủ động và có các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế để xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ. 

Bốn là, việc sáp nhập có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, tình cảm, quyền lợi của cán bộ, đảng viên các đơn vị tiến hành sáp nhập. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền các cơ quan, đơn vị có triển khai sáp nhập phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc để có các giải pháp bảo đảm quyền lợi, chế độ chính sách cho cán bộ nơi thực hiện sáp nhập và thực hiện theo đúng quy định.

Năm là, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, tổ chức, kiểm tra, giám sát của Đảng với tất cả các mặt công tác khác tại cơ quan, đơn vị trong suốt quá trình sắp xếp.

Tóm lại, trong quá trình thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước sẽ có những ý kiến đồng thuận và không đồng thuận, thành phố Đà Nẵng nói riêng và Đảng ủy Khối các cơ quan nói riêng xác định đây là một việc làm khó nhưng phải quyết tâm làm. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối tin tưởng với quyết tâm chính trị và sự đồng thuận cao – một truyền thống vốn có của Đà Nẵng, công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế sẽ thành công, Đảng bộ Khối sẽ làm tốt vai trò của mình để góp phần cùng Thành ủy thực hiện tốt Nghị quyết 18-NQ/TW trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

 

 

 

 

[1] Gồm 25 đảng bộ cơ sở và 34 chi bộ cơ sở.

 

[2] - Công đoàn Viên Chức tỉnh được công nhận Tập thể lao động xuất sắc và được Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh tặng cờ cho đơn vị dẫn đầu của cụm thi đua nắm 2018; 01 tập thể và 01 cá nhân  được tặng Bằng khen toàn diện Ban chấp hànhTổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

- Đoàn Khối được Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Kon Tum tặng cờ thi đua đơn vị đạt danh hiệu xuất sắc toàn diện trong công tác Đoàn và Phong trào thanh niên.

 

                [3]-Đầu nhiệm kỳ, Đảng bộ có có 74 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 45 đảng bộ cơ sở, với 269 chi bộ trực thuộc và 29 chi bộ cơ sở. Đến nayđã thành lập mới 10 tổ chức; nâng cấp 07 chi bộ cơ sở thành đảng bộ cơ sở và 01 đảng bộ bộ phận cơ sở lên đảng bộ trực thuộc đảng bộ khối; bàn giao 01 tổ chức với 35 đảng viên về đơn vị khác quản lý;  giải thể 02 tổ chức với 28 đảng viên; sát nhập 16 tổ chức; tiếp nhận 02 tổ chức với 48 đảng viên: Đến ngày 31/7/2018 Đảng bộ khối có 4374 đảng viên đang sinh hoạt trong 79 tổ chức cơ sở đảng, gồm 47 đảng bộ cơ sở, 295 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở và 32 chi bộ cơ sở, 6 đảng bộ bộ phận với 15 chi bộ trực thuộc đảng bộ bộ phận.

[4]- Đối với Đảng bộ khối: rà soát, bổ sung quy hoạch nhiệm kỳ 2015-2020: rút khỏi quy hoạch 30, (ban chấp hành 23, ban thường vụ 05, chức danh phó bí thư 01); bổ sung quy hoạch 08 (ban chấp hành 04, ban thường vụ 03 phó bí thư 03, bí thư 01). Quy hoạch nhiệm kỳ 2020-2025: ban chấp hành 54, ban thường vụ 15, bí thư 04, phó bí thư 04; rút khỏi quy hoạch ban thường vụ 01;

Thẩm định, phê duyệt quy hoạch các TCCS đảng: nhiệm kỳ 2015-2020: rút khỏi quy hoạch 19, bổ sung quy hoạch ban chấp hành 90, các chức danh ban chấp hành 20; nhiệm kỳ 2020-2025: Quy hoạch Ban Chấp hành 1.201; bổ sung 44; rút khỏi quy hoạch 13.

[5]- Trong đó sáu tháng cuối năm 2015 khai thác 41 hồ sơ, kết luận 35 cán bộ, 17 quần chúng; năm 2016 khai thác 151 hồ sơ, kết luận 05 cán bộ, 24 quần chúng; năm 2017 khai thác 126 hồ sơ, kết luận 54 cán bộ, 25 quần chúng; năm 2018,  khai thác 70  hồ sơ, kết luận 31 cán bộ, 44 quần chúng; sáu tháng đầu năm 2019 khai thác 143 hồ sơ, kết luận 178 cán bộ,   quần chúng  .

 

văn bản mới
Liên kết banner
 
Liên kết web
Video Clip
Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá như thế nào về cổng thông tin này?


Gửi bình chọn  Xem kết quả
Lượt Truy Cập
Số lượt truy cập : 40835